|
|
| Sách Hay Nên Đọc |
 |
|
|
|
|
 |
|
|
|
Làm Chủ Vận Mệnh
Biên dịch:
Thích Minh Quang
Ban Ấn Tống Giác
Nguyên
129F/186/2 Bến
Vân Đồn, P.4,
Q.4, T.P. HCM
(GP.117-88/XB/01.2001)
|
|
|
|
LỜI ĐẦU SÁCH
Làm Chủ Vận Mệnh
là sách ghi lại
lời gia huấn của
Viên Liễu Phàm
đời Minh Trung
Quốc, mục đích
dạy cho con ông
là Viên Thiên
Khải biết được
chân tướng vận
mệnh, phân biệt
tiêu chuẩn thiện
ác, nắm vững
phương pháp cải
ác làm lành, cho
đến những ứng
nghiệm của việc
hành thiện, tích
đức, khiêm tốn,
v.v... Câu
chuyện này đều
là người thật
việc thật, và
đạo lý nói đến
được nghiệm
chứng bằng chính
kinh nghiệm cải
đổi vận mệnh của
tác giả Viên
Liễu Phàm. Đây
thật là một
quyển sách quý,
có ích cho thế
đạo nhân tâm,
chuyển hóa lòng
người, xây dựng
xã hội an lạc.
Song nguyên tác
được viết bằng
Hán cổ, không dễ
gì cho người
hiện nay đọc
hiểu. Cho nên
vào năm đầu Dân
Quốc, có Hoàng
Trí Hải tiên
sinh đã không
ngại khó, dùng
tiếng Bạch Thoại
chú giải tường
tận, mục đích
đại chúng hóa
sách này, khiến
mọi người thấm
nhuần pháp ích.
Có thể nói, đây
là việc làm khổ
nhọc với hoài
bảo to lớn, công
đức thật vô
lượng. Bản chú
giải của Hoàng
Trí Hải được
truyền bá rộng
rãi trong dân
gian, với ưu
điểm là nội dung
phong phú, tường
tận. Song đó
cũng là chỗ
khuyết điểm của
nó. Vì người
hiện nay không
đủ kiên nhẫn và
thời gian để đọc
dài dòng, e rằng
vì lý do này sẽ
ảnh huởng đến
hứng thú đọc
quyển sách quý,
thì thật là điều
đáng tiếc.
Học Hội Hoằng
Pháp Liễu Phàm
và Ban Ấn Tống
Giác Nguyên nhận
thức được điểm
này, nên đã phát
tâm chỉnh lý,
biên tập, phiên
dịch và cho in
ra, để giúp mọi
người dễ đọc dễ
hiểu, sinh tâm
hoan hỉ. Lại do
các vị thiện tâm
cùng góp phần
công đức, đọc
thu thành băng
ghi âm. Quyển
sách này chính
là bản căn cứ
cho phần ghi âm.
Hy vọng rằng
những ai được
đọc, được nghe,
sẽ học theo tinh
thần làm chủ vận
mệnh của Liễu
Phàm tiên sinh,
cải đổi những
điều không tốt,
và sáng tạo một
tương lai xán
lạn cho mình,
cho quốc gia xã
hội, cho đến
toàn thể nhân
loại.
CHƯƠNG MỘT
MÔN HỌC LẬP MỆNH
Lập mệnh chính
là sáng tạo ra
vận mệnh, không
để bị vận mệnh
trói buộc.
Chương Lập Mệnh
này, chính là
bàn đến cái học
lập mệnh, giải
giải đạo lý an
thân. Viên Liễu
Phàm tiên sinh
đã đem kinh
nghiệm bản thân,
cùng nhiều
nghiệm chứng
trong việc cải
đổi vận mệnh để
dạy cho con
trai. Ông muốn
con trai mình là
Viên Thiên Khải
không nên bó tay
trước vận mệnh,
mà phải gắng hết
sức cải đổi vận
mệnh, bằng cách
hành thiện, đoạn
ác, như người
xưa nói: Đừng
chê điều thiện
nhỏ mà không
làm, đừng khinh
điều ác nhỏ mà
làm. Nếu làm
được như vậy,
nhất định sẽ cải
đổi vận mệnh,
như người xưa
từng nói: Đoạn
ác tu thiện, dứt
trừ tai ương,
phước thọ miên
trường. Đây
chính là nguyên
lý cải đổi vận
mệnh.
Ngàn người ngàn
số mệnh, mỗi
mệnh mỗi khác
nhau. Viên Liễu
Phàm đời Minh,
vận mệnh vốn
bình thường, gặp
được Khổng tiên
sinh, đoán số
đều trúng cả.
Chết yểu lại
tuyệt hậu, công
danh chẳng có
đâu, do đời
trước nghiệp
sâu. Suốt hai
mươi năm dài,
sống theo dòng
nghiệp xoáy,
đúng số mệnh
chẳng sai. Gặp
thiền sư Vân
Cốc, khai thị
cho pháp lành,
Viên Liễu Phàm
cư sĩ, mới
chuyển đổi mệnh
mình, mới chuyển
đổi mệnh mình.
Cha thuở nhỏ mất
cha sớm. Bà nội
bảo cha bỏ học,
không nên đi thi
đeo đuổi công
danh, mà đổi học
ngành y làm thầy
trị bệnh. Bà nội
bảo: “Học nghề
thuốc vừa có thể
kiếm tiền nuôi
thân, vừa có thể
cứu giúp người
khác. Nếu y
thuật đến mức
cao minh, cũng
có thể trở thành
y sư danh tiếng.
Đây chính là tâm
nguyện của cha
con khi còn sinh
tiền”.
Về sau cha ở
chùa Từ Vân tình
cờ gặp được một
ông lão tướng
mạo phi phàm,
râu dài phất
phới, có vẻ tiên
phong đạo cốt.
Cha do đó cung
kính vái chào.
Ông lão bảo:
“Ngươi là người
trong chốn quan
trường năm sau
có thể đi thi,
bước vào hàng
trí thức cao,
thế tại sao
không chịu đi
học?”
Cha trả lời vì ý
của bà nội muốn
cha bỏ học để
đeo đuổi ngành
y. Kế đó cha lại
hỏi tính danh,
nơi cư trú của
cụ, cụ đáp: “Ta
họ Khổng, người
Vân Nam, được
chân truyền của
Triệu Khương
Tiết tiên sinh,
người tinh thông
về dịch số Hoàng
Cực. Tính theo
số định, ta phải
tuyền môn dịch
số này cho
ngươi”.
Do đó, cha đưa
vị tiên sinh này
về nhà, thưa lại
mọi việc với bà
nội. Bà nội bảo
cha phải tiếp
đãi cụ chu đáo.
Lại còn dạy
rằng: “Vi tiên
sinh này tinh
thông dịch số
vận mệnh. Vậy
con thử nhờ cụ
tính cho một quẻ
xem sao. Thử coi
có linh nghiệm
hay không”.
Kết quả thật
không ngờ, Khổng
tiên sinh tính
số mệnh cha, dù
là việc nhỏ cũng
vô cùng chính
xác. Cha nghe
theo lời cụ, có
ý định đi học
lại, nên bàn với
người anh họ tên
là Thẩm Xưng.
Anh họ bảo: “Tôi
có một người bạn
thân tên là Úc
Hải Cốc mở lớp
dạy học ở nhà Úc
Hữu Phu. Tôi đưa
cậu đến đó ở trọ
theo học, rất
tiện”.
Từ đó cha bắt
đầu theo tiên
sinh Úc Hải Cốc
học tập. Một lần
Khổng tiên sinh
tính số cho cha
bảo: “Lúc ngươi
chưa có công
danh, còn là học
sinh, thi Huyện
đứng hạng mười
bốn, thi Phủ
đứng hạng bảy
mươi mốt, thi Đề
Học đứng hạng
chín”.
Đến năm sau, cha
đi thi ba nơi,
thứ hạng quả
nhiên đúng như
lời Không tiên
sinh nói. Khổng
tiên sinh lại
tính cho cha một
quẻ kiết hung
họa phúc suốt
đời. Cụ bảo:
“Ngươi vào năm
nào đó sẽ thi
đậu hạng mấy,
vào năm nào đó
sẽ bổ chức Lẫm
sinh, vào năm
nào đó lên chức
Cống sinh, và
năm nào đó được
chọn làm Huyện
truởng một huyện
thuộc tỉnh Tứ
Xuyên. Làm chức
Huyện truởng
được ba năm
rưỡi, bèn từ
quan về quê. Vào
giờ sửu ngày
mười bốn tháng
năm năm mươi ba
tuổi, ngươi sẽ
từ trần tại nhà.
Tiếc rằng số của
ngươi không có
con trai”.
Những lời này
cha đều ghi lại,
và nhớ kỹ trong
lòng. Từ đó về
sau mỗi khi thi
cử, thứ hạng đều
đúng như lời
Khổng tiên sinh
đã đoán. Chỉ có
điều cụ đoán số
thóc mà cha lãnh
khi làm chức Lẫm
sinh là chín
mươi mốt thạch
năm đấu, sau đó
mới thăng chức.
Không ngờ khi
mới nhận được
bảy mươi mốt
thạch thóc, quan
Học Đài là Đồ
tông sư phê
chuẩn cha được
bổ chức Cống
sinh. Cha nghĩ
thầm trong bụng:
Khổng tiên sinh
đoán số cũng có
chỗ không linh
nghiệm.
Không ngờ sau đó
giấy phê chuẩn
thăng chức của
cha bị quan Học
Đài thay thế là
Dương tông sư
bác bỏ, không
cho làm chức
Cống sinh. Mãi
đến năm Đinh
Mão, Ân Thu Minh
tông sư xem thấy
bài dự thi tuyển
của cha, thấy
không được chấm
đậu, nên lấy làm
tiếc, than rằng:
“Năm bài văn
sách làm trong
quyển thì
nàykhác nào tấu
điệp dâng lên
cho vua. Người
có học thức như
thế này lẽ nào
lại để cho mai
một đến già?”
Do đó ông dặn
quan huyện đưa
hồ sơ của cha
lên chỗ ông, phê
chuẩn cha bổ
chức
Cống sinh. Trải
qua sự trắc trở
này, cha huởng
thêm một số thóc
của chức Lẫm
sinh, cộng với
bảy mươi mốt
thạch thóc đã ăn
khi trước, vừa
đúng chín mươi
mốt thạch năm
đấu. Sau khi xảy
ra sự việc này,
cha càng tin
tuởng: Công danh
tiến thoái thăng
trầm của một đời
người đều do số
mạng định sẵn.
Sự thành đạt đến
sớm hay muộn,
đều có thời gian
nhất định. Do đó
cha xem mọi thứ
bình thường,
không còn có
lòng tranh cầu
gì nữa.
Khi được tuyển
làm chức Cống
sinh, theo quy
định phải đến
trường Quốc Tử
Giám ở Bắc Kinh
để học. Cho nên
cha ở kinh thành
một năm, suốt
ngày ngồi yên,
không nói
chuyện, cũng
không khởi tư
tuởng. Tất cả
sách vở đều
không xem đến.
Đến năm Kỷ Tỵ,
cha trở về học ở
trường Quốc Tử
Giám tại Nam
Kinh, tranh thủ
thời gian trước
khi nhập học,
đến núi Thê Hà
bái kiến thiền
sư Vân Cốc. Ngài
là một vị cao
tăng đắc đạo.
Cha ngồi đối
diện với thiền
sư trong một
gian thiền phòng
suốt ba ngày ba
đêm, không hề
chợp mắt. Vân
Cốc thiền sư
hỏi: “Người ta
sở dĩ không thể
trở nên thánh
nhân chỉ vì vọng
niệm trong tâm
khởi lên không
ngừng. Ngươi
tịnh tọa ba
ngày, ta chưa
từng thấy ngươi
khởi lên một
niệm vọng tuởng,
đó là vì sao?”
Cha đáp: “Số
mệnh của tôi đã
được Khổng tiên
sinh xem rõ rồi.
Lúc nào sinh,
lúc nào chết,
lúc nào đắc ý,
lúc nào thất ý
đều có số định
sẵn, không cách
gì thay đổi
được. Vậy cho dù
có nghĩ tuởng
mong ước cái gì
đi nữa cũng vô
ích. Cho nên tôi
chẳng thèm nghĩ
tuởng, do đó
trong tâm cũng
không có vọng
niệm.”
Vân Cốc thiền sư
cười bảo: “Ta
vốn cho rằng ông
là bậc trượng
phu xuất chúng,
nào ngờ chỉ là
kẻ phàm tu tục
tử tầm thường!”
Cha nghe xong
không hiểu, bèn
thỉnh giáo tại
sao lại như thế.
Vân Cốc thiền sử
bảo: “Một người
bình thường
không sao tránh
khỏi tâm ý thức
vọng tuởng xáo
trộn. Đã có tâm
vọng tuởng không
dừng, thì phải
bị âm dương khí
số trói buộc. Đã
bị âm dương khí
số trói buộc,
sao có thể bảo
là không có số
mệnh được? Tuy
nói rằng có số,
song chỉ người
bình thường mới
bị số mệnh trói
buộc. nếu là một
người cực thiện,
thì số mệnh
không sao ảnh
huởng được đến
anh ta.
Bởi vì người cực
thiện, cho dù số
mệnh vốn có chú
định phải chịu
khổ sở, nhưng
nhờ làm được
điều thiện cực
lớn, sức mạnh
của việc thiện
lớn này, có thể
chuyển khổ thành
vui, nghèo hèn
đoản mệnh thành
phú quý trường
thọ.
Còn người cực
ác, số cũng
không ảnh huởng
được họ. Vì cho
dù số mệnh họ
chú định được
huởng phước,
song vì họ gây
tạo việc ác lớn,
chính sức mạnh
của việc ác này
khiến phước trở
thành họa, giàu
sang trường thọ
trở nên nghèo
hèn chết yểu.
Số mệnh của ông
trong hai mươi
năm được Khổng
tiên sinh đoán
trước, không
từng biết cải
đổi một chút,
trái lại còn bị
số mệnh buộc
chặt. Một người
bị số mệnh buộc
chặt chính là
phàm phu tục tử.
Vậy ông không
phải là kẻ phàm
phu tục tử hay
sao?”
Cha hỏi Vân Cốc
thiền sừ rằng:
“Theo như thiền
sư nói, thì số
mệnh có thể cải
đổi được chăng?”
Thiền sư trả
lời: “Mệnh do tự
mình tạo, phước
do chính mình
tìm. Ta làm ác
tự nhiên bị tổn
phước; Ta tu
thiện tự nhiên
được phước báo.
Sách vở mà cổ
nhân để lại xưa
nay, đã chứng
minh tính chính
xác của đạo lý
này. Trong kinh
Phật nói: Muốn
cầu phú quý được
phú quý, muốn
cầu con trai con
gái được con
trai con gái,
muốn cầu trường
thọ được trường
thọ.
Chỉ cần tu tạo
việc lành, thì
số mệnh không
sao trói buộc
được chúng ta.
Nói vọng ngữ là
đại giới của nhà
Phật, chẳng lẽ
Phật và Bồ tát
lại lừa dối
chúng ta sao?”
Cha nghe xong
trong lòng vẫn
chưa hoàn toàn
minh bạch, mới
hỏi thêm rằng:
“Mạnh tử từng
nói: Bảo rằng
cầu mà có thể
được, là chỉ
những gì ở trong
lòng ta có thể
làm được. Nếu
không phải là
những gì ở trong
lòng, thì làm
sao có thể nhất
định cầu được?
Ví như nói đạo
đức nhân nghĩa,
toàn là những
thứ ở trong tâm
chúng ta, ta lập
chí làm một
người nhân nghĩa
đạo đức, thì tự
nhiên trở thành
người nhân nghĩa
đạo đức. Đây là
cái mà ta có thể
tận lực để cầu.
Còn như công
danh phú quý, là
cái không ở
trong tâm, vốn
ngoài thân chúng
ta, nếu người
khác chịu cho,
ta mới có thể
được. Còn như
người ta không
chịu cho, ta
không cách nào
có được, vậy ta
làm sao có thể
cầu?”
Vân Cốc thien sư
bảo: “Lời nói
của Mạnh tử
không sai, song
ông giải thích
lại sai! Ông
không thấy Lục
Tổ Huệ Năng nói
sao: Tất cả các
loại phước điền
đều quyết định
trong tâm chúng
ta. Phước không
lìa tâm, ngoài
tâm không có
phước để cầu.
Cho nên trồng
phước hay gieo
họa, đều do nơi
tâm chúng ta.
Chỉ cần từ tâm
mình đi cầu
phước, không có
gì mà không cảm
ứng ra.
Nếu biết từ tâm
mình mà cầu, thì
không những cầu
được nhân nghĩa
đạo đức trong
lòng, mà công
danh phú quý bên
ngoài cũng cầu
được. Đó gọi là
trong ngoài đều
được. Nói cách
khác, dùng cách
gieo trồng ruộng
phước để cầu,
thì nhân nghĩa,
phước lộc chắc
chắn sẽ được.”
Một người số
mệnh có công
danh phú quý,
cho dù không cầu
cũng có; còn như
số mệnh không có
công danh phú
quý, cho dù có
cầu cũng vô ích.
Cho nên chúng ta
nếu không biết
kiểm điểm xét
lại mình, chỉ
hướng ngoại tìm
cầu công danh
phú quý một cách
mù quáng, thì
không chắc chắn
có được, vì nó
còn lệ thuộc vào
phước báo sẵn có
của mình. Đó là
khế hợp với ý
hai câu nói của
Mạnh tử: “Cầu
phải có đạo lý,
còn được hay
không là do số
mệnh”.
Phải biết rằng,
cho dù chúng ta
cầu mà được, thì
đó cũng là phước
báo sẵn có của
chính chúng ta,
mà không phải
chỉ do cầu mà có
hiệu nghiệm! Cho
nên cái gì đáng
cầu mới cầu, mà
không nên cầu
một cách vô
nguyên tắc,
không có đạo lý!
Nếu như phước
báo không có mà
khăng khăng muốn
cầu, thì không
những công danh
phú quý cầu
không được, mà
còn do vì tâm
tham cầu quá
đáng, không có
mức độ, bất chấp
thủ đoạn, nên
đánh mất cả nhân
nghĩa đạo đức
trong tâm. Như
vậy chẳng phải
trong ngoài đều
mất cả sao? Vì
vậy cầu mà không
có đạo lý là vô
ích.
Cầu phú quý,
được phú quý;
cầu trường thọ,
được trường thọ;
Cầu gái trai,
được gái trai.
Điều gì nguyện
ước tất xong
ngay; điều gì
nguyện ước tất
xong ngay. Chỉ
cần làm việc
thiện, cầu ngay
tại tâm mình,
tâm chính là
ruộng phước, đó
đạo lý nguyện
cầu; tâm chính
là ruộng phước,
đó đạo lý nguyện
cầu!
Vân Cốc thiền sư
tiếp đó hỏi:
“Khổng tiên sinh
đoán số mệnh cả
đời của ông như
thế nào?”
Cha thuật lại
tường tận những
gì Khổng tiên
sinh đã tính,
vào năm nào thi
đậu hạng mấy,
năm nào làm
quan, bao nhiêu
tuổi mất v.v...
Vân Cốc thiền sư
bảo: “Ông tự suy
xét sem, mình có
thể thi đậu được
công danh không?
Có thể có con
trai hay không?”
Cha xét lại
những việc làm
của mình đã qua,
suy nghĩ rất lâu
mới trả lời:
“Tôi không có
phước tướng, nên
biết phước báo
không có bao
nhiêu; lại không
biết tích công
đức, làm việc
thiện để vun bồi
phước báo. Lại
thêm tôi không
biết nhẫn nại,
chịu gánh vác
những việc phức
tạp, nặng nề.
Tôi lại có tánh
hẹp hòi, nóng
nảy, ai làm gì
sai không thể
bao dung. Có lúc
tôi còn tự cao
tự đại, đem tài
năng, trí thức
của mình ra lấn
lướt người khác.
Tôi muốn làm gì
thì làm, nói
năng tùy tiện.
Những biểu hiện
trên là tướng
bạc phước, làm
sao có thể thi
đậu được công
danh?
Sạch sẽ là một
đức tính tốt,
song nếu quá mức
sẽ trở thành
tánh khí khó
chịu. Nên người
xưa bảo: Chỗ nào
nhiều phân rác,
cây cối lại tốt
tươi; nơi nào
nước quá sạch,
tôm cá không thể
sống. Tánh tôi
thẳng thắn,
trong sạch quá
mức, thành ra
bất cận nhân
tình. Đây là
nguyên nhân thứ
nhất tôi không
có con trai.
Vạn vật phải nhờ
vào ánh dương
quang ấm áp, gió
mưa mát mẻ thấm
nhuần mới sinh
truởng được.
Tánh tôi lại
nóng nảy giận
hờn, không có
hòa khí tươi mát
làm sao có thể
sinh được con
trai? Đây là
nguyên nhân thứ
hai.
Nhân ái là cội
rễ của sự sống.
Nếu tâm tàn
nhẫn, không có
từ bi thì khác
nào như trái cây
không hạt, làm
sao nảy mầm mọc
thành cây khác?
Cho nên người
xưa bảo: Tàn
nhẫn là gốc của
tuyệt tự. Tôi
chỉ biết yêu
tiếc danh tiết
của mình, không
chịu hy sinh bản
thân để thành
toàn cho người
khác, làm điều
thiện, tích công
đức. Đó là
nguyên nhân thứ
ba tôi không có
con trai.
Nói nhiều dễ
dàng hại đến
khí. Tôi lại
nhiều lời, nên
thân thể không
được khỏe mạnh,
làm sao mà có
được con trai?
Đây là nguyên
nhân thứ tư tôi
không có con
trai.
Người ta sống là
nhờ tinh, khí,
thần. Tôi thích
uống rượu. Rượu
làm tiêu tấn
tinh thần. Một
người tinh lực
không đầy đủ,
cho dù sinh ra
con trai cũng
không được
trường thọ. Đây
là nguyên nhân
thứ năm tôi
không có con
trai.
Người ta ban
ngày không nên
ngủ, ban đêm
không nên thức.
Tôi thường ngồi
suốt đêm, không
chịu ngủ sớm. Đó
là không biết
bảo dưỡng nguyên
khí tinh thần.
Đây là nguyên
nhân thứ sáu tôi
không có con
trai. Ngoài ra
còn có nhiều sai
lầm, không sao
nói hết.
Vân Cốc thiền sư
bảo: “Ông như
vậy không những
không có được
công danh, mà
nhiều thứ khác
cũng không có
được. Nên biết
có phước hay
không phước, đều
do tâm ta tạo.
Người có trí tuệ
biết rằng đó là
tự mình làm, tự
mình nhận lấy
kết quả. Người
không hiểu biết,
lại đổ thừa cho
vận mệnh.
Ví dụ như trên
thế gian có
người giàu sang,
sản nghiệp ngàn
lượng vàng, đó
là họ có phước
báo ngàn lạng
vàng. Người có
sản nghiệp trăm
lạng vàng, đó là
họ có phước báo
trăm lạng vàng.
Còn người nghèo
cùng chết đói,
là họ có quả báo
chết đói. Ví dụ
như người lành
tích đức, trời
sẽ cho họ huởng
phần phước báo
tương ứng; kẻ ác
tạo tội, trời sẽ
bắt họ chịu tai
họa tương ứng.
Nói trời, là chỉ
thiên lý, tức
luật nhân quả tự
nhiên, mà không
phải có ai ban
phước hay giáng
họa.”
Tiếp theo là Vân
Cốc thiền sư
mượn cái thấy
của người thế
tục để khuyên
cha tích đức
hành thiện: “Còn
việc sinh con
trai, giống như
chúng ta gieo
hạt vậy. Nhân
tốt sẽ gặt quả
tốt, nhân xấu sẽ
có quả xấu. Một
người tích chứa
công đức được
một trăm đời,
thì có con cháu
trong một trăm
đời gìn giữ
phước báo của
họ. Một người
tích chứa công
đức được mười
đời, thì có con
cháu trong mười
đời gìn giữ
phước báo của
họ. Tích chứa
công đức được
hai ba đời, thì
có con cháu
trong hai ba đời
giữ gìn phước
báo của họ. Còn
người chỉ huởng
phước trong một
đời, đến đời sau
lại tuyệt hậu,
đó là vì công
đức tích chứa
chỉ bấy nhiêu.
Song tội nghiệp
của người đó có
lẽ lại không ít!
Ông đã tự biết
khuyết điểm của
mình, thì phải
hết lòng hết sức
cải đổi những
tính xấu, biểu
hiện bạc phước
khiến không được
công danh và con
trai đó. Ông
nhất định phải
làm lành tích
đức, đối với
người hòa khí từ
bi, bao dung độ
lượng và quý
tiếc gìn giữ
tinh thần của
mình.
Hãy coi tất cả
những việc trước
kia như hôm qua
đã chết đi; còn
những việc về
sau như hôm nay
mới sinh ra.
Biết sống trong
hiện tại. Làm
được việc này là
ông đã có một
sinh mệnh mới.
Đó là sinh mệnh
nhân nghĩa đạo
đức. Thân huyết
nhục của chúng
ta còn có khí số
nhất định; song
còn sinh mệnh
nhân nghĩa đạo
đức không bị số
mệnh trói buộc,
có thể cảm đến
thiên lý. Thiên
Thái Giáp trong
Kinh thư nói:
Trời giáng xuống
tai họa còn có
thể tránh; tự
mình gây ra tai
họa thì không
thể tránh, ắt
phải chịu khổ.
Kinh thi cũng
nói: Người ta
phải thường xét
nghĩ đến hành vi
của mình có hợp
với đạo trời hay
không? Nếu hợp
đạo trời, thì
phước báo không
cầu cũng tự
nhiên đến. Cho
nên phước hay
họa đều là do
mình.
Kinh Thư nói:
Trời giáng họa
tránh được; Mình
gây hoạ, khó
tránh. Kinh thi
nói: Thường phản
tỉnh, xét lại
mình, hợp hay
trái với đạo
trời. Gặp phước
hay gặp họa, tất
cả là do ta. Tất
cả là do ta.
Khổng tiên sinh
tính số cho ông
bảo không có
công danh, lại
thêm không con
thừa tự. Tuy là
bảo số trời định
sẵn, song vẫn có
thể cải đổi. Ông
chỉ cần mở rộng
lòng đạo đức
nhân nghĩa sẵn
có, gắng sức làm
lành, tích chứa
âm đức. Đó là
ông tự mình tạo
ra phước báo cho
mình, người khác
muốn cướp giật
cũng không được,
làm sao mà không
huởng được
phước?
Kinh Dịch cũng
vì những người
giữ lòng nhân
đức mà tính
trước nên đi
hướng nào sẽ
kiết tường,
tránh được những
việc hung hiểm,
những người hung
hiểm, những chổ
hung hiểm.
Nếu nói vận mệnh
nhất định không
thể thay đổi,
thì làm sao có
thể đến chỗ kiết
tường, tránh nơi
hung hiểm?
Chương mở đầu
của Kinh Dịch đã
nói: Gia đình
nào hành thiện,
ắt sẽ dư nhiều
phước báo, để
lại cho con
cháu. Đạo lý này
ông thực sự có
tin không?”
Cha tin lời Vân
Cốc thiền sư,
đảnh lễ tạ ơn và
theo lời chỉ
giáo. Cha đồng
thời đem những
việc sai lầm tội
lỗi lúc trước,
không luận là
lớn nhỏ nặng
nhẹ, ra trước
Đức Phật phát lộ
sám hối. Cha
cũng làm một bài
văn, trước hết
tỏ lòng nguyện
cầu có được công
danh, kế đó phát
thệ nguyện làm
ba ngàn việc
thiện, để đền
đáp đại ân, đại
đức của trời đất
tổ tiên cha mẹ
đã sinh thành ra
cha.
Vân Cốc thiền sư
nghe cha lập thệ
làm ba ngàn việc
thiện, liền đưa
cho xem quyển sổ
ghi lại việc tội
hay phước. Ngài
dạy phải làm
theo những lời
dặn trong đó.
Phàm những việc
làm của mình,
không luận là
thiện hay ác,
mỗi ngày đều
phải ghi vào
quyển sổ đó.
Việc thiện thì
ghi vào phần
phước, còn việc
ác ghi vào phần
tội.
Song việc ác
phải xem là lớn
hay nhỏ, có thể
dùng phần việc
thiện đã ghi để
giảm trừ. Ngài
còn dạy phải trì
chú Chuẩn Đề,
nhờ sức gia trì
của chư Phật để
giúp nguyện ước
sớm thành tựu.
Do đó vận mệnh
là tự mình tạo
lấy. Nếu phân
tách một cách tỉ
mỉ để giảng, thì
dù giàu hay
nghèo cũng không
khác, đều phải
làm theo đạo lý
lập mệnh này.
Khi giàu không
thể cậy tiền cậy
thế hống hách,
hiếp đáp người
khác; mà phải
khiêm cung, chia
sẻ giúp đở mọi
người. Như vậy
vận mệnh phú quý
càng thêm phú
quý và có thể
bảo tồn lâu dài.
Khi nghèo vẫn
giữ khí tiết,
không làm việc
trái với lương
tâm. Dù nghèo
vẫn an phận thủ
thường, làm một
người lương
thiện. Như vậy
mới có thể
chuyển đổi vận
mệnh bần cùng
thành vận mệnh
phú quý. Cho
nên, dù giàu hay
nghèo đều phải
bỏ ác làm lành,
gieo trồng ruộng
phước.
Đoản mệnh hay
trường thọ cũng
vậy. Không nên
cho rằng mình
vắn số, sống
chẳng bao lâu mà
tranh thủ huởng
thụ, mặc tình
làm ác, vào
đường đọa lạc.
Nên biết, vì
nghiệp báo mình
phải đoản mệnh,
nên gắng sức làm
lành, hy vọng
đời sau sẽ được
trường thọ. Như
vậy có thể đời
này được sống
lâu thêm.
Còn người trường
thọ cũng không
nên ỷ lại mà mặc
sức tạo ác, gian
dối phạm pháp,
đắm mê tửu sắc.
Nên biết trường
thọ có được
không dễ, nên
biết phải trân
trọng, làm thêm
điều lành để giữ
gìn phước báo
trường thọ này.
Hiểu được đạo lý
này, mới có thể
cải đổi đoản
mệnh thành
trường thọ; mệnh
trường thọ càng
thêm lâu dài,
càng thêm khỏe
mạnh. Người ta
sống trên đời,
việc hệ trọng
nhất là sống và
chết. Nếu có thể
xem đoản mệnh và
trường thọ không
khác, thì tất cả
thuận cảnh,
nghịch cảnh,
giàu sang nghèo
hèn, đều bao
quát trong đó.
Mạnh Tử nói đến
cái học về lập
mệnh chỉ bàn đến
đoản mệnh và
trường thọ, mà
không nói đến
giàu và nghèo,
thành đạt và
khốn cùng, cũng
chính vì lý do
này.
Vân Cốc thiền sư
lại bảo: “Mạnh
Tử có câu “Tu
thân để đợi đó”,
là bảo: Tự mình
phải luôn luôn
tu dưỡng đức
hạnh, không nên
làm ác gây tội
dù là mảy may.
Còn như vận mệnh
có cải đổi được
hay không, đó là
tùy thuộc việc
tích đức nhiều
ít, hợp hay
không hợp đạo
trời.
Nói đến chữ “tu
thân”, là bảo
sửa đổi những
sai lầm, tội ác
của chúng ta,
như uống thuốc
trị bệnh. Còn
bảo “đợi”, là
chỉ phải đợi đến
công phu tu thân
sâu dày, phước
báo vun đắp đầy
đủ, tội nghiệp
tương ứng tiêu
trừ, thì vận
mệnh sẽ tự nhiên
chuyển đổi, trở
nên tốt đẹp.
Không nên có tư
tuởng mong muốn
những gì vượt
quá phận mình,
để cho vọng tâm,
dục tuởng làm mờ
ám tâm trí, mà
phải giữ tâm
bình thường,
buông xuống mọi
vọng niệm sinh
diệt. Đến trình
độ này, đã đạt
đến cảnh giới
tâm như như bất
động. Công phu
này là cái học
chân chánh mà
thế gian thọ
dụng”.
Vân Cốc thiền sư
nói tiếp: “Hành
vi của người
bình thường tùy
thuộc vào ý
niệm. Phàm việc
gì còn khởi tâm
phân biệt để làm
thì không phải
là tự nhiên, còn
có dấu vết. Ông
hiện nay chưa
thể đạt đến
trình độ không
động tâm. Khi
ông trì chú
Chuẩn Đề không
cần dụng tâm ghi
nhớ, hay đếm bao
nhiêu biến, cứ
niệm liên tục,
không cho gián
đoạn. Niệm đến
lúc cực kỳ thuần
thục, tự nhiên
miệng niệm mà
tâm không cảm
thấy niệm. Đó
gọi là niệm mà
không niệm. Khi
không niệm,
trong tâm vẫn tự
nhiên niệm. Đó
gọi là không
niệm mà niệm.
Niệm chú đạt đến
trình độ đó, thì
cả ba: người,
chú và niệm đều
hợp thành một
khối, không còn
tạp niệm xen
vào, như vậy
không chú nào mà
chẳng linh
nghiệm. Song
công phu này,
phải kinh qua
thực hành, mới
lãnh hội được.
Cha ban đầu tên
hiệu là Học Hải,
song từ ngày đó
trở đi đổi hiệu
là Liễu Phàm.
Bởi vì sau khi
hiểu rõ đạo lý
lập mệnh, cha
không muốn sống
như kẻ phàm phu,
mà phát nguyện
quét sạch kiến
giải phàm phu,
nên gọi là Liễu
Phàm.
Từ đó về sau, cả
ngày cha đều
chánh niệm tỉnh
giác, cẩn thận
từ lời nói, việc
làm cho đến ý
nghĩ. Cha cảm
thấy mình như
thay đổi hẳn,
trở thành con
người khác.
Lúc trước cha
sống tùy tiện,
hồ đồ, không có
kiềm thúc; đến
nay trở nên cẩn
thận, cung kính,
cảnh giác những
điều bất thiện.
Cho dù trong
nhà, buổi tối
không có ai đi
nữa, cha cũng
không dám tùy
tiện, vì biết có
trời đất quỷ
thần xét soi.
Gặp người ganh
ghét, hủy báng,
cha vẫn an
nhiên, không
chấp nhất, tranh
luận với họ.
Năm thứ hai sau
khi tham kiến
Vân Cốc thiền
sư, cha đến bộ
Lễ thi cử. Khổng
tiên sinh đoán
số cha sẽ đậu
hạng ba, không
ngờ lại đậu được
hạng nhất. Lời
của Khổng tiên
sinh bắt đầu hết
linh nghiệm.
Khổng tiên sinh
không nói cha sẽ
đậu cử nhân,
song trong kỳ
thi Hương mùa
thu, cha lại thi
đậu cử nhân. Đây
là do làm phước
tích đức khiến
số mệnh thay
đổi. Vân Cốc
thiền sư bảo:
“Vận mệnh có thể
thay đổi”. Lời
nói này đến nay
đã được chứng
nghiệm, khiến
cha càng thêm
tin tuởng.
Cha tuy sửa đổi
lỗi lầm khá
nhiều, song khi
gặp việc nên
làm, vẫn không
thể chuyên tâm
nhất ý làm. Cho
dù làm, vẫn còn
miễn cưỡng,
không được tự
nhiên. Cha phản
tỉnh kiểm điểm,
thấy lỗi lầm vẫn
còn rất nhiều.
Ví dụ như thấy
việc thiện, tuy
chịu làm, song
không mạnh dạn
nổ lực làm. Hoặc
là gặp lúc cứu
người, trong
lòng vẫn còn
chần chờ, do dự,
không kiến quyết
thực hiện. Việc
thiện tuy tôi có
thể miễn cưỡng
làm được, song
lại hay nói
những lời lầm
lỗi. Khi tỉnh
táo còn có thể
tự chủ, song khi
say rượu lại
phóng túng, làm
càn. Cho nên cha
tuy làm lành có
tích chứa chút
công đức, song
lỗi lầm vẫn còn
rất nhiễu. Nếu
lấy công đức để
trừ đi lỗi lầm e
còn chưa đủ.
Thời giờ chỉ
luống uổng đi
qua.
Từ năm Kỷ Tỵ
nghe lời khai
thị của Vân Cốc
thiền sư, cha
phát nguyện làm
ba ngàn việc
thiện, đến năm
Kỷ Mão, đã hơn
mười mấy năm mới
hoàn thành ba
ngàn việc thiện
này.
Lúc đó, cha vừa
cùng với Lý Tiệm
Am tiên sinh từ
Quan ngoại trở
về Quan nội,
chưa kịp đem ba
ngàn việc lành
này ra hồi
hướng. Đến năm
Canh Thìn, cha
trở về phương
Nam, mới thỉnh
hai vị đại lão
Hòa thượng đức
độ là ngài Tánh
Không và Tuệ
Không, mượn
thiền đường Đông
Tháp để hoàn
thành tâm nguyện
hồi hướng này.
Lúc đó, cha lại
khởi lên tâm
nguyện cầu sinh
con trai, và
phát đại nguyện
làm ba ngàn việc
lành lớn. Đến
năm Canh Tỵ sinh
ra con, đặt tên
là Thiên Khải.
Cha mỗi khi làm
được một điều
thiện đều ghi
lại. Mẹ con
không biết viết
chữ, mỗi khi làm
được một việc
lành, như cho
người nghèo cơm
ăn, hay phóng
sinh v.v... đễu
lấy bút lông
ngỗng, in một
khuyên tròn màu
đỏ lên lịch. Có
lúc một ngày in
cả mười mấy dấu
đỏ lên lịch, đại
biểu cho ngày đó
làm được mười
mấy việc thiện.
Như thế mãi đến
tháng tám năm
Quý Mùi, mới
hoàn thành ba
ngàn điều thiện
đúng như nguyện.
Cha lại thỉnh
các vị như Hòa
thượng Tánh
Không v.v... về
nhà làm lễ hồi
hướng. Đến tháng
chín năm đó, cha
lại khởi lên lời
nguyện thi đậu
Tiến sĩ, và phát
nguyện làm một
vạn điều thiện
để hồi hướng.
Đến năm Bính
Tuất, lại thi
đậu Tiến sĩ. Bộ
Lại bổ cho cha
làm chức Huyện
truởng huyện Bảo
Để đương khuyết.
Lúc cha làm
huyện truởng
huyện Bảo Để, có
chuẩn bị một
quyển sổ kẻ ô để
trống. Quyển sổ
này cha gọi nó
là Sổ Tay Trị
Tâm. Nói Trị Tâm
là e tâm mình
khởi lên tà niệm
hay ác niệm,
dùng phương tiện
này để đối trị.
Mỗi ngày thức
dậy vào lúc sáng
sớm, lúc thăng
đường xét xử,
cha đều cho
người để quyển
sổ trị tầm này
trên bàn làm
việc. Mỗi ngày,
việc lành hay
vie6.c ác dù là
rất nhỏ cũng ghi
vào đó. Bà nội
thấy cha làm
việc thiện không
nhiều, thường
chau mày bảo:
“Mẹ lúc trước ở
nhà giúp con làm
việc thiện, cho
nên lời nguyện
ba ngàn việc
thiện có thể
hoàn thành. Nay
con phát nguyện
làm mười ngàn
việc thiện,
trong nha môn
thực khó mà thực
hiện được, biết
đến bao giờ mới
làm xong đây?”
Sau đó, vào một
đêm cha bỗng nằm
mơ thấy một vị
thiên thần xuất
hiện. Cha bèn
đem việc khó mà
hoàn tất mười
ngàn việc thiện
này thưa lại với
thiên thần.
Thiên thần bảo:
“Chỉ một việc
ông làm Huyện
truởng giảm thuế
ruộng đất cho
dân là đủ để bù
vào mười ngàn
việc thiện”.
Thì ra lúc
trước, ruộng của
huyện Bảo Để mỗi
mẫu đáng lẽ phải
thu thuế là hai
đồng ba hào bảy
xu. Cha cảm thấy
nhân dân chịu
thuế quá nặng,
nên thanh lý hết
tất cả số ruộng
trong huye6.n,
mỗi mẫu chỉ đóng
thuế một đồng
bốn hào sáu xu.
Cha cảm thấy
thật là lạ, tại
sao việc này
thiên thần lại
biết được. Vả
lại cũng nghi
ngờ, sao việc
này có thể đủ bù
vào mười ngàn
việc thiện?
Đúng lúc đó có
thiền sư Huyễn
Dư từ núi Ngũ
Đại đến huyện
Bảo Để. Cha thưa
lại chuyện trong
mộng với thiền
sư, và hỏi có
tin được chuyện
này không? Huyễn
Dư thiền sư đáp:
“Làm việc thiện
phải có tâm chân
thành khẩn
thiết, không thể
giả dối qua loa,
có tâm cầu báo
đáp. Như vậy cho
dù một việc
thiện cũng có
thể bằng mười
ngàn việc thiện.
Huống chi ông
giảm thuế cho
toàn huyện, nông
dân toàn huyện
đều huởng được
ân huệ này. Cả
ngàn vạn người
nhờ đó mà giảm
đi nỗi khổ vì
thuế má nặng nề,
đó thực là phước
báo to lớn”.
Cha nghe xong
lời dạy của
thiền sư, liền
đem tiền bạc
bổng lộc của
mình ra, nhờ
thiền sư cúng
trai tăng mười
ngàn vị trên núi
Ngũ Đài và hồi
hướng công đức.
Khổng tiên sinh
tính số mạng cho
cha bảo năm năm
mươi ba tuổi
phải gặp tai
nạn. Cha tuy
không có cầu
trời cho sống
thọ, song năm
năm mươi ba tuổi
lại không có
chút đau bịnh
gì. Năm nay cha
đã sáu mươi chín
tuổi rồi. Kinh
Thư nói: Thiên
đạo là điều
người ta khó mà
tin được, mệnh
của con người
không có nhất
định. Lại nói:
Mệnh con người
không có nhất
định, đều do tự
mình tạo.
Những lời này
không sai chút
nào. Cha do đó
mới biết, phàm
nói đến họa
phúc, đều do tự
mình tạo ra. Đó
là lời của Thánh
Hiền. Còn như
bảo họa phúc do
trời chú định,
đó là lời nói
của kẻ dung tục
trên đời.
Đạo trời khó thể
tin, mệnh người
không nhất định,
mệnh người không
nhất định, họa
phước vốn do
mình. Nếu bảo
trời chú định,
là lời kẻ phàm
dung, Thánh Hiền
đâu có dùng,
Thánh Hiền đâu
có dùng.
Vận mệnh của
Viên Thiên Khải
con không biết
rồi sẽ như thế
nào. Song cho dù
là vinh hoa phú
quý, con cũng
phải giữ tâm như
lúc thất chí
nghèo hèn. Cho
dù gặp may mắn
tốt đẹp, con
cũng phải giữ
lòng như lúc
trắc trở khó
khăn. Cho dù
trước mắt có dư
ăn dư mặc, con
cũng phải cần
kiệm như lúc
thiếu thốn nghèo
hèn. Cho dù được
người ta yêu
thích, kính
trọng, con phải
luôn khiêm tốn,
cẩn trọng. Cho
dù gia thế có
danh vọng đến
đâu, con cũng
phải thấy mình
thấp kém. Cho dù
học vấn có cao
thâm bao nhiêu,
con phải thấy
mình còn thô
thiển.
Sáu cách suy
tuởng này, là từ
phản diện để
nhìn vấn đề. Nếu
biết khiêm cung
như vậy, đạo đức
dần dần nâng
cao, phước báo
cũng tự nhiên
tăng truởng.
Xa thì con nên
truyền nối và mở
rộng đức khí của
tổ tiên; còn gần
thì phải biết
hiếu kính cha
mẹ. Trên thì con
nên báo đáp ân
huệ của đất
nước; còn dưới
thì phải tạo
dựng hạnh phúc
cho gia đình.
Ngoài thì con
nên cứu tế cấp
nạn cho người
khác; trong thì
con phải luôn đề
phòng niệm tuởng
tà ác.
Sáu cách trên là
từ chánh diện để
khẳng định vấn
đề. Nếu con
thường phản
tỉnh, suy xét
như vậy, nhất
định sẽ trở
thành bậc chánh
nhân quân tử.
Người ta mỗi
ngày cần phải
biết được lỗi
lầm của mình,
mới có thể sửa
đổi mỗi ngày.
Bằng không, cứ
ngỡ là mình
không có lỗi
lầm, không chịu
tu sửa, không
làm sao tiến bộ
được. Người xinh
đẹp thông minh
trên thế gian
không ít, song
phần lớn lại
không biết dụng
công tu dưỡng
đạo đức, không
biết dụng công
xây dựng sự
nghiệp, đều chỉ
vì thói lần lữa
qua ngày, đến
đâu hay đến đó,
không có chí
phấn đấu cầu
tiến, mới làm lỡ
cả một đời của
họ.
Những lời Vân
Cốc thiền sư dạy
về đạo lý lập
mệnh, thật là
tinh thâm nhất,
chân chánh nhất.
Cha mong con đọc
và suy nghĩ kỹ,
lại phải tận tâm
tận lực thực
hành, quyết
không để ngày
tháng quý báu
luống qua vô
ích!
CHƯƠNG HAI
SỬA ĐỔI LỖI LẦM
Người ta không
phải mới sinh ra
đã là Thánh
Hiền, nên làm
sao tránh được
gây tạo lỗi lầm?
Khổng tử nói: Có
lỗi lầm không sợ
sửa đổi, là việc
lành không gì
lớn hơn. Cho
nên, Liễu Phàm
tiên sinh sau
khi giảng đạo lý
lập mệnh xong,
lại bàn đến
phương pháp sửa
lỗi. Ông trình
bày một cách
tường tận để dạy
con mình là Viên
Thiên Khải. Lỗi
lầm nhỏ còn phải
sửa đổi, huống
chi là tội ác
lớn, đương nhiên
quyết không thể
phạm.
Vào thời Xuân
Thu, các quan
cao cấp của các
nước thường đoán
việc kiết hung
họa phúc của một
người nào đó
thông qua ngôn
ngữ hành vi của
họ, và kết quả
rất là linh
nghiệm. Điều này
có thể thấy được
qua sách Tả
Truyện và Quốc
Ngữ. Phàm những
điềm báo kiết
tường hay hung
hiểm đều do mầm
mống trong tâm
phản ứng ra
ngoài. Những
điềm kiết hung
này còn thể hiện
qua cử chỉ của
người đó nữa.
Nếu một người
nhân hậu, cử chỉ
của họ sẽ chững
chạc; còn kẻ bạc
bẽo, thì cử chỉ
sẽ tùy tiện.
Người sống nhân
hậu thì thường
được phước; kẻ
bạc bẽo nhất
định sẽ gặp họa.
Người bình
thường thiếu
hiểu biết, không
đủ trí tuệ để
xét thấy việc
này, nên bảo họa
phước không nhất
định, không sao
biết trước được.
Một người có thể
sống hết sức
thành thực,
không một chút
giả dối, thì tâm
họ khế hợp đạo
lý. Do đó, nếu
đem tâm chân
thành ra đối đãi
với người, thì
phước báo tự
nhiên sẽ đến.
Cho nên, xét một
người nào đó,
chỉ cần nhìn
thấy họ toàn làm
việc thiện, thì
biết trước rằng
phước của họ sắp
đến.
Trái lại, xét
một người mà
thấy hành vi của
họ toàn làm điều
ác, thì biết
rằng họ sắp gặp
họa. Người ta
muốn tránh họa
được phước, phải
tự mình cải đổi
lỗi lầm trước
khi làm thiện.
Phương pháp cải
đổi lỗi lầm,
trước hết là
phải phát khởi
tâm hổ nhục.
Chúng ta nên suy
nghĩ: Thánh Hiền
đời xưa như ta
không khác, đều
là nam tử hán,
đại trượng phu.
Thế tại sao các
vị ấy có thể lưu
lại tiếng thơm
muôn đời, làm
gương sáng cho
hậu thế; còn
chúng ta lại
luống qua một
đời, hay thân
bại danh liệt?
Đó là vì chúng
ta quá đam mê
huởng thụ, bị
hoàn cảnh vật
dục bên ngoài ô
nhiễm, lén làm
những việc không
nên làm. Càng
ngày chúng ta
càng trầm luân
trong bể dục,
không khác gì
cầm thú, mà tự
mình chẳng biết
chẳng biết chẳng
hay.
Cái hổ nhục trên
đời không có gì
lớn hơn như vậy.
Mạnh tử nói:
“Việc lớn
nhất,quan trọng
nhất của một
người không gì
hơn chữ nhục”.
Vì sao? Vì hiểu
được chữ “nhục”
này, ta có thể
sửa đổi được tất
cả lỗi lầm, trở
nên Hiền Thánh.
Nếu không hiểu
được chữ “nhục”
này, thì sẽ
phóng túng làm
càn, đánh mất
nhân cách, không
khác gì cầm thú.
Những lời trên
chính là bí
quyết chân chánh
để sửa đổi.
Phương phát thứ
hai để sửa lỗi
là phải khởi tâm
lo sợ thận
trọng.
Chúng ta phải
biết Chư Thiên
Hộ Pháp luôn ở
bên cạnh chúng
ta. Chư Thiên Hộ
Pháp thấy được
tất cả những
hành vi của
mình, nên ta
không thể lừa
dối họ được.
Chúng ta có thể
giấu được mọi
người làm điều
sai trái, qua
mặt pháp luật,
nhưng không sao
qua mắt được Chư
Thiên Hộ Pháp.
Việc ác của
chúng ta đối với
họ như soi kính,
đều hiện ra rõ
ràng không sót.
Chúng ta cho dù
dấu kín được
tội, song Chư
Thiên Hộ Pháp
nhìn thấy rõ tâm
can phế phủ của
mình. Chúng ta
khởi tâm động
niệm như thế
nào, các vị ấy
đều biết rõ. Cho
nên, mình biết
rõ tâm niệm hành
vi của mình như
thế nào, Chư
Thiên cũng biết
rõ như vậy.
Nếu chẳng may
hành vi xấu xa
của chúng ta bị
người khác biết
được, thì chẳng
phải mình mất
hết giá trị, bị
người ta xem
thường phỉ nhổ
hay sao? Cho
nên, ta lúc nào
cũng phải có tâm
lo sợ, thận
trọng.
Cho nên, gây tạo
tội nặng sẽ rước
lấy tai họa, gây
tạo tội nhẹ sẽ
tổn phước giảm
đức. Tội lỗi đối
với thần minh,
long thiên Hộ
Pháp không sao
che giấu được,
như vậy ta lẽ
nào không biết
sợ hay sao?
Chúng ta chỉ cần
còn một hơi thở,
cho dù phạm tội
lớn đến đâu, đều
có thể sám hối.
Thuở xưa có
người cả đời làm
ác, đến khi lâm
chung tỉnh ngộ
ăn năn, khởi lên
niệm lành rất
lớn, liền được
an ổn vãng sinh.
Nói như vậy có
nghĩa, nếu người
ta khi đối diện
cửa ải tử sinh,
chỉ cần thống
thiết, dũng mãnh
khởi lên niệm
thiện, ăn năn
tỉnh ngộ, thì có
thể rửa sạch
nghiệp tội tích
chứa trong suốt
trăm năm. Ví như
hang tối ngàn
năm, chỉ cần
thắp lên một
ngọn đèn sáng,
thì lập tức sẽ
quét sạch bóng
đen, chỉ còn ánh
sáng rỡ ràng.
Cho nên, không
luận làm ác bao
lâu, nhiều ít
như thế nào, chỉ
cần thống thiết
ăn năn, sửa đổi
lỗi lầm, nhất
định sẽ được
thanh tịnh.
Tuy nói có lỗi
chỉ cần biết ăn
năn cải đổi là
được, song tuyệt
đối không được
vì thế mà ỷ lại,
cho rằng thường
phạm lỗi không
sao. Người như
thế có tâm phạm
lỗi, tội càng
sâu nặng hơn.
Trong thế gian
bất tịnh này,
vạn vật đều
huyễn hóa vô
thường, tấm thân
huyết nhục này
nay còn mai mất
không sao liệu
trước được.
Chẳng phải một
hơi thở ra mà
không hít vào là
đã qua đời khác
sao? Đến lúc đó
có muốn sửa đổi
lỗi lầm cũng
không sao kịp
nữa. Khi cái
chết đến mọi thứ
đều bỏ lại, chỉ
có nghiệp tội đi
theo chúng ta mà
thôi.
Do đó, kẻ làm ác
báo ứng ở dương
gian là phải
chịu tiếng xấu
trăm ngàn năm,
cho dù có con
hiếu cháu hiền
cũng không sao
rửa sạch được
vết nhơ này. Còn
quả báo đời sau
là phải trầm
luân trong địa
ngục, chịu vô
lượng vô biên
khổ não, đọa đày
trong ngàn muôn
ức kiếp. Lúc đó
dù gặp được
Phật, Bồ tát,
Thánh nhân, cũng
không cách nào
cứu chúng ta
được. Như vậy há
không đáng sợ
sao?
Thứ ba là phát
khởi tâm dũng
mãnh tiến lên.
Người ta sở dĩ
làm lỗi mà không
sửa đổi được là
do tâm dễ duôi,
lần lữa qua ngày
mà không chịu
lập chí tiến
thủ, dũng mãnh
kiên quyết. Đây
chính là nguyên
cớ đọa lạc, thối
lui.
Phải biết nếu
muốn sửa đổi lỗi
lầm nhất định
phải lập chí
kiên quyết, lập
tức cải đổi,
quyết không nên
chần chừ, do dự.
Không nên ngày
nay lại hẹn đến
mai, mai lại hẹn
đến mốt, cứ thế
kéo dài, lần lữa
đến chết. Lỗi
lầm nhỏ hãy xem
như gai đâm vào
xương thịt, để
lâu một ngày là
nhức nhối một
ngày, nên phải
gấp rút nhổ ra.
Lỗi lầm lớn hãy
xem như rắn độc
cắn phải, để
chậm môt giây là
nguy hiểm đến
tánh mạng một
giây. Như quẻ
Ích trong Kinh
Dịch nói: Gió
thổi sấm nổ, vạn
vật sinh truởng,
lợi ích lớn lao
như vậy. Đây là
dụ cho người đổi
ác làm lành,
được ích lợi lớn
như vạn vật nhờ
mưa thuận gió
hòa mà sinh
truởng tốt tươi.
Sửa lỗi phải
phát tâm, phát
tâm là tâm gì?
Một, tâm biết hổ
nhục, hai, tâm
biết sợ tội, ba
là tâm dõng
mãnh. Đầy đủ ba
tâm này, sẽ sửa
được lỗi ngay,
sẽ sửa được lỗi
ngay!
Một người lập
chí sửa đổi lỗi
lầm, nếu có đầy
đủ ba tâm hổ
nhục, sợ tội và
dũng mãnh, thì
có thể lập tức
sửa được lỗi
lầm; như lớp
băng mỏng mùa
Xuân gặp phải
ánh dương quang,
lo gì không tan
rã? Song sửa đổi
lỗi lầm có ba
góc độ dụng
công. Một là từ
trên thực tế để
sửa đổi. Hai là
từ trên đạo lý
để sửa đổi. Ba
là từ trên tâm
niệm để sửa đổi.
Do ba cách dụng
công khác nhau,
nên kết quả cũng
bất đồng. Trước
hết, nói về từ
trên thực tế sửa
đổi lỗi lầm.
Ví dụ như hôm
qua sát sinh,
hôm nay chấm dứt
không sát sinh
nữa. Hôm trước
nổi giận mắng
người, hôm nay
bỏ qua không
giận nữa. Đây là
phương pháp chấm
dứt lỗi lầm
không tái phạm,
bằng cách sửa
đổi lỗi lầm khi
sự việc đã phát
sinh. Song sửa
lỗi như vậy là
miễn cưỡng dằn
lòng, tuy qua
được một lúc
song mầm mống
lỗi lầm vẫn còn
trong tâm. Chỉ
cần có cơ hội
thích hợp là nó
lại tái phát,
đôi khi còn mãnh
liệt hơn nữa.
Người ta bảo tức
nước vỡ bờ là
vậy. Nên đây
không phải là
phương pháp sửa
lỗi lầm một cách
triệt để.
Thế nào là dựa
trên đạo lý cải
đổi lỗi lầm?
Một người lập
chí sửa đổi lỗi
lầm, trước khi
ngăn giữ không
làm một điều sai
quấy nào đó,
phải hiểu rõ đạo
lý tại sao ta
không nên làm.
Ví dụ như một
người đối với
lỗi lầm của việc
sát sinh, trước
hết anh ta phải
nghĩ rằng: Đức
hiếu sinh là đạo
lý tự nhiên.
Phàm là loài só
sinh mệnh ai lại
chẳng tham sống
sợ chết? Thế mà
ta lại giết loài
vật để nuôi thân
mình, thử hỏi
trong tâm có yên
ổn không? Những
con vật mà ta
cắt cổ, nhổ
lông, lột da,
xào nấu v.v...,
chúng phải chịu
bao đau đớn khổ
sở lúc lâm
chung, như vậy
có phải tội lỗi
lắm không? Ăn
uống trên sự
tướt đoạt sinh
mệnh, gây tạo
khổ đau cho
chúng sinh, song
miếng ngon khi
qua khỏi miệng
lập tức trở
thành đồ dơ mà
ai cũng nhờm,
cũng gớm! Như
Vậy có đang cho
chúng ta vì thế
mà gây tạo sát
nghiệp, chàđạp
trên quyền được
sống còn của
sinh vật, khiến
phải chịu tội
báo, tổn giảm
phước đức không?
Ăn chay đạm bạc,
thực ra cũng đủ
no và dinh
dưỡng.
Lại suy nghĩ
rằng: Phàm loài
có sinh mệnh
huyết khí đều có
tri giác tánh
linh. Đã có tri
giác tánh linh,
thì có khác gì
chúng ta đâu?
Ngày xưa bậc
Thánh như vua
Thuấn, nhờ đạo
đức cao thượng
mà được voi cày
ruộng giúp, chim
nhổ cỏ giùm. Ta
nay tuy chưa thể
tu dưỡng được
như người xưa,
khiến loài vật
đến tôn trọng,
thân cận, song
cũng không thể
tàn hại sinh
mệnh của chúng,
khiến kết nên
nhân duyên oán
thù. Mối hận này
đeo đuổi chúng
ta đến lúc nào
mới hết?
Người biết suy
nghĩ như thế,
không thể nào
nuốt trôi những
cá thịt trên
bàn.
Ví dụ như tánh
tình của ta của
ta trước kia hay
nổi sân, nên suy
nghĩ rằng: Ai
cũng có điều
tốt, ai cũng có
chỗ xấu. Khi gặp
chỗ xấu của
người, xét về
tình lý, nên
thương cho họ,
mà tha thứ chỗ
xấu đó, vì chính
họ cũng là nạn
nhân, chịu khổ
não bởi thói xấu
bản thân. Nếu có
người ngang
ngược, vô lý mạo
phạm đến ta, thì
lỗi đó ở họ có
dính dáng gì đến
ta, vậy tại sao
ta phải nổi
giận?
Lại nghĩ rằng:
Trên đời này
không có ai dám
tự cho rằng mình
là hoàn hảo,
không chút lỗi
lầm. Một người
cho rằng mình là
hoàn hảo, mới
chính là kẻ ngu
nhất. Trên đời
cũng không có
đạo lý nào dạy
chúng ta oán hận
người xung
quanh. Người
càng có học vấn
thì càng phải
khiêm tốn,
nghiêm khắc với
mình, khoan dung
với người, sao
lại oán hận
người khác?
Cho nên, một
người làm việc
không được vừa
lòng đắc ý, đều
do đạo đức của
mình không tu
dưỡng tốt, còn
thiếu công đức,
không đủ sức cảm
động lòng người.
Vì vậy phải phản
tỉnh, kiểm điểm
lại mình, xem có
chỗ nào có lỗi
với người không?
Người có thể suy
xét được như
vậy, dụng công
sửa mình, thì
người khác phỉ
báng sẽ trở
thành sự trui
rèn, thành tựu
phẩm cách cho
ta, bằng những
bài học phản
diện. Ta nên
hoan hỉ tiếp
nhận sự giáo
huấn, phê bình
của người khác,
còn oán hận điều
gì?
Lại nữa, nghe
người khác nói
xấu mà ta không
nổi giận, dầu
lời nói đó ác
độc đến đâu;
khác nào như đem
lửa đốt trời, hư
không vẫn rỗng
rang, không có
gì để cháy, lửa
cuối cùng cũng
tắt. Nếu người
ta nghe người
khác hủy báng mà
tìm cách biện
hộ, thì khác nào
như tằm nhả tơ,
tự trói buộc lấy
mình. Đó là tự
mình chuốc lấy
khổ. Cho nên,
nổi giận không
những vô ích mà
còn có hại.
Đó là nói về hậu
quả của nóng
giận. Còn như
những lỗi lầm và
tội ác khác,
cũng nên y theo
đạo lý này mà
suy xét, thì tự
nhiên sẽ không
phạm phải lỗi
lầm.
Thế nào là cải
đổi lỗi lầm từ
tâm niệm?
Người ta gây tạo
lỗi lầm vốn
nhiều vô số,
song tất cả đều
từ tâm niệm mà
ra. Nếu tâm ta
không động niệm,
thì không có tạo
ra bất cứ nghiệp
gì. Như vậy lỗi
lầm từ đâu mà
sinh? Phàm người
ta thường có
nhiều lỗi lầm
như tham đắm nữ
sắc, danh tiếng,
tiền của, hoặc
hay nóng giận,
v.v... Chúng ta
không cần tìm
hiểu phương pháp
để cải đổi từng
lỗi lầm một, mà
chỉ cần nhất tâm
nhất ý khởi niệm
lành, làm việc
thiện, lúc nào
cũng chánh niệm
hiện tiền, thì
không có ý niệm
tà ác nào xen
khởi, làm ô
nhiễm tâm ta
được.
Ví như mặt trời
soi sáng giữa
từng không, tất
cả những hắc ám
đều không chỗ
dung thân. Đây
chính là yếu
quyết tu tâm,
sửa lỗi chân
chánh duy nhất.
Phải biết tất cả
lầm lỗi tội ác
đều do một tâm
này gây tạo, nên
chỉ cần ngay nơi
tâm này sửa đỗi
lỗi lầm. Đây
giống như trừ
cây độc, phải
đốn tận gốc,
trốc tân rễ, mới
không sợ mọc trở
lại, mà đâu cần
phải chặt từng
nhánh, bẻ từng
lá!
Phương pháp cải
đổi lỗi lầm cao
minh nhất vẫn là
tu tâm. Nếu biết
tu tâm thì sẽ
lập tức khiến
tâm thanh tịnh.
Vì tất cả sai
lầm đều do tâm
khởi niệm bất
chánh mà ra. Nếu
biết tu tâm,
chánh niệm tỉnh
giác, khi khi tà
niệm vừa khởi
liền phát giác.
Tà niệm ngay đó
sẽ không còn,
tâm trở lại
thanh tịnh bất
động. Nếu ta
không làm được
như vậy, khi tà
niệm khởi lên
phát giác muộn
màng , và không
đủ sức giác
chiếu để khiến
nó tiêu diệt,
thì phải dùng
đạo lý để suy
xét, thống
trách, thì sẽ
hóa giải được tà
niệm đó. Còn như
không biết dùng
đạo lý để suy
xét thống trách,
thì cố gắng dằn
lòng, tránh xa
duyên phạm lỗi.
Cả ba phương
pháp này tuy có
cao có thấp khác
nhau, song đều
có giá trị
riêng, và bổ túc
cho nhau. Ta cần
phải biết rõ
mình, để có thể
tùy cơ, tùy lúc
vận dụng cả ba
phương phá một
cách thích đáng
tu sửa lỗi lầm,
ắt sẽ công hiệu.
Song phương pháp
tu tâm, chánh
niệm tỉnh giác
vẫn là chánh
yếu, không nên
bỏ qua.
Lập chí sửa đổi
lỗi lầm cũng cần
có trợ duyên để
dễ thành tựu. Về
phương diện thấy
được, đó chính
là bạn tốt,
khuyên bảo, nhắc
nhở ta lúc hồ
đồ, nông nổi. Về
phương diện
không thấy được,
đó là đối trước
Phật, Bồ tát,
chư thiên,
v.v... cầu chứng
minh gia hộ,
thành tâm sám
hối, từ sáng đến
tối không dám
buông lung. Như
tôi đã từng sám
hối bảy ngày,
mười bốn ngày,
cho đến một
tháng, ba tháng.
Cứ sám hối như
vậy nhất định sẽ
có chứng nghiệm.
Sửa lỗi phải
phát nguyện, lại
phải nhờ trợ
duyên. Một mặt
nhờ bạn lành,
mặt khác nhờ Bồ
tát, để chứng
minh gia trì.
Phải một lòng
một ý, sám hối
mọi lỗi lầm, sám
hối mọi lỗi lầm.
Nói chứng nghiệm
của sự sám hối
lỗi lầm là gì?
Ví dụ như ta
bỗng cảm thấy
tinh thần rất
thư thới, trong
lòng an vui, hay
cảm thấy trước
đây tối dạ, giờ
bỗng mở mang trí
tuệ; hay dù là
trong hoàn cảnh
rộn ràng phiền
phức, mà tâm
mình vẫn sáng
suốt, tất cả đều
thông tỏ. Hay
lúc gặp phải kẻ
oan gia thù
địch, có thể an
ổn hoan hỉ, hóa
giải cơn giận
nỗi hận trong
lòng. Hoặc khi
nằm mộng, mơ
thấy ói ra thứ
màu đen. Đây
chính là những
tư niệm tà, tích
chứa thành uế
khí, trong mơ ói
ra, thì tâm địa
trở nên thanh
tịnh. Hay trong
mơ trông thấy
Phật, Bồ tát đến
nâng đỡ, dắt dìu
ta; hoặc thấy
mình bay lên
không trung,
tiêu dao tự tại.
Hay mơ thấy các
loại phan lọng
được trang sức
bằng các loại
châu báu nhiều
màu. Những việc
ít thấy ít nghe
như vậy, đều là
những điềm tiêu
trừ tội chướng
trong quá khứ.
Song cũng không
nên vì gặp được
những điềm lành
này, liền tự cho
rằng mình có sở
đắc, tu hành hơn
người mà khởi
tâm ngã mạn,
không chịu vươn
lên, tiếp tục nỗ
lực.
Vào thời Xuân
Thu trước đây,
quan đại phu
nước Vệ là Cừ Bá
Ngọc vào năm hai
mươi tuổi đã
biết xét lại
những lỗi lầm
trong quá khứ
của mình để kiểm
điểm, cải đổi.
Đến năm hai mươi
mốt tuổi, lại
cảm thấy trước
đây sửa đổi lỗi
lầm vẫn chưa
triệt để. Đến
năm hai mươi hai
tuổi, nhìn lại
năm hai mươi mốt
tuổi, vẫn giống
như ở trong
mộng. Cứ như vậy
mỗi năm trôi
qua, mỗi năm lại
sửa đổi lỗi lầm.
Cho đến năm năm
mươi tuổi, vẫn
cảm thấy bốn
mươi chín năm
qua mình vẫn lỗi
lầm! Người xưa
đối với việc sửa
đổi lỗi lầm cẩn
thận coi trọng
đến mức như vậy.
Đại phu Cừ Bá
Ngọc, người tài
đức khiêm cung,
hai mươi tuổi
xét lỗi, mỗi năm
đều kiểm điểm,
đến lúc tuổi năm
mươi, vẫn thấy
còn lầm lỗi. Sửa
lỗi quan trọng
thay! Quan trọng
thay!
Chúng ta đều là
kẻ phàm phu, lỗi
lầm dẫy đầy, như
lông trên mình
nhím. Song ta
lại cảm thấy
dường như mình
không có lầm lỗi
gì lắm. Đó là do
ta hời hợt,
không biết phản
tỉnh tự xét.
Giống như con
mắt có bịnh,
không nhìn thấy
mình mỗi ngày
đang tạo tội.
Song một người
làm lỗi tạo ác,
đến một mức nào
đó sẽ có triệu
chứng hiện ra.
Như tâm tư hỗn
loạn trệ ngăn,
tinh thần suy
sụp, hay quên;
hoặc việc không
đáng phiền não
lại cảm thấy vô
cùng phiền não;
hoặc thấy người
phẩm hạnh cao
quý, cảm thấy hổ
thẹn không vui;
hay nghe được
những lời đạo
đức quang minh
chính đại, lại
không thích;
hoặc đem ân huệ
cho người, đối
phương không
nhận còn trở lại
oán hận; hoặc
tối ngủ thấy
những giấc mơ
xấu đáng sợ;
hoặc nói năng
không thứ lớp,
không bình
thường. Những
hiện tượng bất
bình thường như
vậy, đều là biểu
hiện của việc
làm ác.
Giả sử có những
hiện tượng như
trên, ta phải đề
khởi tinh thần,
phấn phát hướng
thượng, sửa đổi
những sai lầm
cũ, mở ra con
đường nhân sinh
sáng tỏ cho
mình. Hy vọng
mọi người không
nên tự làm lỡ
mình!
CHƯƠNG BA
TÍCH CHỨA PHƯỚC
THIỆN
Chương trên đã
giảng những
phương pháp của
đổi lỗi lầm. Nếu
làm được như
vậy, tự nhiên có
thể bảo đảm mệnh
vận tốt đẹp
không biến thành
xấu, song vẫn
chưa đủ để cải
đổi mệnh vận xấu
trở nên tốt đẹp.
BởI vì đờI này
tuy ta không
phạm lỗi tạo ác,
song đời trước
ta có gây tạo
tội ác hay không
làm sao biết
được? Nếu đời
trước phạm tội,
đời này tuy
không phạm, vẫn
phải trả báo của
đời trước, vẫn
gặp mệnh vận xấu
ác. Vậy ta phải
làm sao mới có
thể cải đổi vận
mệnh xấu đây? Đó
là không những
phải cải đổi lỗi
lầm, mà còn phải
tích chứa phước
thiện, công đức,
mới có thể khiến
nghiệp tội đời
trước tiêu đi.
Việc lành tích
chứa nhiều, tự
nhiên có thể
chuyển đổi mệnh
xấu thành mệnh
tốt, đồng thời
cũng có thể
nghiệm chứng
được hiệu quả
của nó.
Khổng tử tỉnh
Sơn Đông, tích
chứa phước thiện
lớn, con cháu
nhiều đời sau,
vẫn thịnh vượng
không suy. Khổng
Đức Thành tiên
sinh, đời thứ
bảy mươi ba! Đòi
thứ bảy mươi ba!
Kinh Dịch nói:
Nhà tích chứa
điều thiện, tự
nhiên phước đức
có dư. Trước đây
có người họ
Nghiêm, định gả
con gái của mình
cho cha của
Khổng tử, việc
đầu tiên là kiểm
điểm những việc
làm của nhà họ
Khổng. Ông nhận
thấy tổ tiên của
họ Khổng tích
chứa phước đức
rất nhiều và rất
lâu, nên biết
trước con cháu
họ Khổng sau này
nhất định sẽ
thành đạt lớn.
Sau đó, quả
nhiên sinh ra
Khổng tử. Lại
nữa, Khổng tử
khen sự hiếu
thảo của vua
Thuấn vượt hơn
việc hiếu bình
thường. Khổng tử
nói: “Lòng đại
hiếu như vua
Thuấn, không
những tổ tiên
nhờ đó được
huởng sự cúng tế
của ông, mà con
cháu nhiều đời
cũng giữ được
phước lộc của
mình, không bị
thất bại”.
Nước Trần vào
thời Xuân Thu,
chính con cháu
vua Thuấn truyền
lại, đủ chứng
minh con cháu
đời sau của vua
Thuấn thành đạt
rất lâu! Cho
nên, lời nói của
Khổng tử thật vô
cùng chính xác.
Nay lại đem
những việc thực
sự xảy ra trong
quá khứ để chứng
minh công đức
của việc tích
chứa phước
thiện. Có một
người làm đến
chức Thiếu sư,
tên là Dương
Vinh, thuộc
huyện Kiến Ninh
tỉnh Phúc Kiến.
Tổ tiên của ông
làm nghề chống
thuyền đưa khách
sang sông để
kiếm sống. Có
một lần, mưa
xuống rất lâu,
sông suối ngập
tràn, thế nước
ào ạt, cuốn
phăng nhà cửa
của dân. Rất
nhiều người đã
bị nước cuốn, số
chết, số đang
vật vã trong
dòng nước xiết.
Những thuyền
khác đều lo đi
vớt của cải trôi
theo dòng nước,
chỉ ông cố và
ông nội của
Dương Vinh lo đi
cứu những người
mắc nạn bị nước
cuốn, mà không
vớt một món vật
nào. Người trong
làng đều cười
chê, cho họ là
ngu. Đến khi cha
Dương Vinh ra
đời, sinh kế của
gia đình lần lần
khá giả. Có một
vị đạo sĩ nói
với cha Dương
Vinh rằng: “Cha
và ông nội của
ông tích chứa
được rất nhiều
âm đức, con cháu
nhất định sẽ
thành đạt làm
quan lớn. Ông
nên đem hài cốt
cha mình an táng
tại chỗ kia”.
Cha Dương Vinh
nghe xong, y lời
đạo sĩ, đem hài
cốt của cha và
ông nội chôn tại
chỗ đại sĩ chỉ.
Ngôi mộ đó, ngày
nay mọi người
đều biết là mộ
Bạch thố. Sau đó
Dương Vinh ra
đời, đến năm hai
mươi tuổi thi
đậu Tiến sĩ. Làm
quan mãi đến
chức Thiếu sư
thuộc hàng Tam
công. Hoàng đế
còn truy phong
cho cha, ông
nội, ông cố của
Thiếu sư chức
tước như ông.
Con cháu đời sau
của Thiếu sư vô
cùng thành đạt,
mãi cho đến ngày
nay vẫn còn rất
nhiều bậc hiền
tài.
Dương Thiếu sư!
Dương Thiếu sư!
Ông cố, ông nội
tích âm đức,
tích âm đức. Lụt
lội chỉ lo cứu
vớt người, của
cải chẳng quan
tâm. Người cười
như thế là khờ
ngu! Đâu ngờ ngu
mà được đại
phước, được đại
phước.
Dương Tự Trừng
người Ninh Ba
Triết Giang ban
đầu làm chức thư
biện ở quan nha,
tâm vô cùng nhân
hậu, nghiêm giữ
pháp luật, làm
việc công minh
chánh trực. Lúc
đó quan huyện là
người nghiêm
khắc ngay thẳng,
có một lần đánh
một kẻ tù phạm
đến máu chảy đầy
đất, mà vẫn chưa
nguôi giận.
Dương Tự Trừng
lúc đó quỳ xuống
xin tha cho
người phạm tội.
Quan huyện bảo:
“Ông xin tha tội
cho hắn vốn
chẳng có gì đáng
nói, song tên tù
phạm này không
tuân thủ pháp
luật, làm trái
đạo lý, sao mà
không giận cho
được!”
Dương Tự Trừng
vừa dập đầu lạy
vừa thưa: “Hiện
nay trong triều,
thật ra thị phi
khó định, quan
trường toàn là
việc tối tăm,
tham ô hủ bại,
đánh mất lòng
dân đã lâu. Nếu
ngài thẩm vấn
giả như tìm ra
tội của phạm
nhân thì cũng
nên đau lòng cho
họ, thương họ
không biết đạo
lý, lầm phạm
pháp luật, mà
không nên vì đó
mà vui mừng. Nếu
như có tâm vui
thích tìm ra tội
trạng của phạm
nhân, e sẽ dễ
đưa đến xử án
thiếu sót sai
lầm. Nếu như
ngài quá nóng
giận đánh đập
khảo tra, e rằng
phạm nhân do
chịu không nổi
sẽ nhận tội bừa,
làm oan uổng
người ta. Ngay
cả ưa thích tìm
ra tội trạng của
phạm nhân còn
không được,
huống chi là nổi
giận sao?”
Quan huyện nghe
xong lời nói của
Dương Tự Trừng,
vô cùng cảm
động, lập tức
dịu sắc mặt, hạ
cơn giận xuống.
Dương Tự Trừng
gia cảnh rất
nghèo, song có
người đem biếu
cho món gì ông
đều không nhận.
Gặp khi tù phạm
đói khát, ông
thường tìm cách
kiếm thức ăn
biếu cho họ. Một
hôm có vài tù
nhân mới đến, vì
đường xa không
có ăn uống nên
vô cùng đói
khát. Lúc đó nhà
ông lại thiếu
gạo, nếu đem đến
cho tù nhân thì
người nhà sẽ
phải chịu đói.
Nếu chỉ lo cho
mình, thì những
tù nhân này đói
khát thật đáng
thương. Không
còn cách nào
khác, ông bèn
bàn cùng vợ. Vợ
hỏi: “Những tù
nhân này từ chỗ
nào giải đến?”
Ông trả lời: “Từ
Hàng Châu đến.
Họ dọc đường
chịu đói, trên
mặt xám xanh
không còn chút
máu. Lúc này dù
có một chút cơm
thừa canh cặn,
họ cũng hai tay
bưng lấy ăn ngấu
nghiến!”
Do đó, hai vợ
chồng bèn đem
chút ít gạo còn
lại trong nhà ra
nấu cháo cho họ
ăn.
Về sau, hai
người sinh được
hai đứa con
trai, đứa lớn
tên Thủ Trần,
đứa nhỏ tên Thủ
Chỉ, đều làm
quan đến chức
Nam Bắc Lại Bộ
Thị Lang. Cháu
nội lớn làm đến
chức Hình Bộ Thị
Lang. Cháu nội
nhỏ cũng làm đến
chức Tứ Xuyên Án
Sát Sứ. Hai
người con, hai
người cháu đều
là những quan
lớn nổi tiếng.
Hiện nay có hai
danh nhân là Sở
Đình và Đức
Chánh, đều là
dòng dõi con
cháu của Dương
Tự Trừng.
Tù nhân khổ biết
bao, khổ biết
bao! Đã bị giam
cầm lại thiếu
ăn, trong lòng
khổ thống có ai
hay. Có ai hay?
Dương thư biện
có lòng nhân
hậu, vợ chồng
đồng tâm cứu
giúp người. Nhà
biết tích thiện
phước có thừa,
phước có thừa.
Vào khoảng năm
Chánh Thống vua
Anh Tông triều
Minh, có một
người lãnh đạo
thổ phỉ tên là
Đặng Mậu Thất
làm phản ở tỉnh
Phúc Kiến. Kẻ sĩ
và dân chúng ở
nơi đó đi theo
rất đông. Triều
Đình bèn sai
Trương Khải
người huyện Ngân
làm chức Đô Ngự
Sử đi dẹp loạn.
Trương Khải dùng
kế bắt được Đặng
Mậu Thất. Sau đó
họ Trương lại
phái Tạ Đô sự
làm chức Bố Ty
Chánh tỉnh Phúc
Kiến đi tróc nả
những người tòng
đảng. Nếu bắt
được liền giết.
Nhưng Tạ Đô sự
không chịu giết
càn, sợ giết lầm
người. Ông bèn
cho đi tra tìm
danh sách đảng
giặc, điều tra
ra phàm không
phải là tòng
đảng, trên danh
sách không có
tên, đều ngầm
đưa cho họ một
lá cờ trắng và
hẹn rằng, khi
quan binh đến
tra xét thì treo
lá cờ trắng đó
trước cửa, chứng
tỏ mình là lương
dân vô tội. Đồng
thời ông cũng
cấm các quan
binh không được
giết bừa. Nhờ
biện pháp đó, có
đến hơn vạn
người tránh khỏi
bị giết. Về sau
con trai của Tạ
Đô sự là Tạ
Thiên thi đậu
trạng nguyên,
làm quan đến
chức Tể tướng.
Cháu nội của ông
là Tạ Phi cũng
thi đậu Thám
Hoa, tức Tiến sĩ
hạng ba.
Tướng quân không
giết bừa, đời
sau con cháu
được phát đạt.
Tạ Đô sự, tâm từ
bi, cứu sống hơn
vạn người, con
cháu được hưng
vượng, được hưng
vượng!
Trong huyện Bồ
Điền tỉnh Phúc
kiến có nhà họ
Lâm. Truởng bối
của họ có một bà
cụ thích làm
việc thiện,
thường dùng bột
mì làm bánh biếu
cho người nghèo.
Chỉ cần có người
mở lời xin, bà
liền biếu cho,
không chút do
dự. Có một vị
đạo sĩ mỗi sáng
đều đến xin bà
sáu bảy cái
bánh. Bà lão cho
suốt ba năm chưa
hề có lời phiền
hà. Đạo sĩ biết
bà có thành tâm
làm việc thiện,
nên bảo: “Tôi ăn
bánh của bà suốt
ba năm, không
biết làm sao để
đáp ơn này? Sau
nhà có miếng đất
trống, nếu sau
khi mất, bà có
thể an táng tại
nơi đó, sau này
con cháu nhất
định sẽ có quan
tước, nhiều như
một đấu mè.”
Về sau bà lão
qua đời, người
con y lời đem
chôn mẹ mình ở
nơi đạo sĩ nói.
Không ngờ một
đời nhà họ Lâm
thi đậu có đến
chín người. Sau
này con cháu làm
quan nhiều đời,
số lượng rất
nhiều. Do đó
tỉnh Phúc Kiến
truyền tụng câu
nói: Nếu không
có họ Lâm đi
thi, thì không
có thể có người
trúng tuyển! Ý
nói, người họ
Lâm đi thi
nhiều, đậu cũng
lắm.
Bà lão nhà họ
Lâm, thích làm
việc phước
thiện, thường
làm bánh bột mì,
biếu cho người
nghèo ăn, biếu
cho người nghèo
ăn. Tâm bố thí
chí thành, thần
tiên cũng cảm
động, nhân nào
quả như vậy, con
cháu đều làm
quan, đều làm
quan.
Cha của quan
Thái sử Phùng
Trác Am lúc làm
Tú tài ở trường
Huyện, vào một
buổi sáng vô
cùng lạnh lẽo,
ông đang trên
đường đi đến
trường, bỗng
trông thấy một
người nằm ngã
trên tuyết, lạnh
cóng sắp chết.
Phùng tiên sinh
liền cởi áo
khoác của mình
ra mặc cho người
đó, và đưa về
nhà, cứu tỉnh.
Sau đó, Phùng
tiên sinh nằm mơ
thấy một vị
thiện thần bảo:
“Ngươi cứu một
mạng người hoàn
toàn xuất phát
từ tâm chí
thành, cho nên
ta phái Hàn Kỳ
đầu thai, làm
con trai nhà
ông”.
Về sau, Trác Am
sinh ra, được
đặt tên là Phùng
Kỳ. Thì ra Phùng
Kỳ vốn là một vị
Tể tướng văn võ
toàn tài triều
Tống tên là Hàn
kỳ tái sanh.
Phùng tiên sinh,
tâm từ bi, cứu
mạng người, công
đức lớn. Thành
tâm thành ý cứu
mạng người,
phước hơn xây
dựng tháp bảy
tầng, tháp bảy
tầng.
Ở Đài châu Triết
Giang có một vị
quan Thượng thư
tên là Ứng Đại
do. Ông thuở còn
trẻ từng ở trong
núi tự học. Nơi
đây ban đêm
thường có loài
quỷ tụ tập kêu
gào, mọi người
đều sợ không dám
ở, song Ứng Đại
Do lại không sợ.
Một đêm nọ ông
nghe hai con quỷ
nói chuyện. Một
con quỷ bảo: “Có
một phụ nữ chồng
đi xa đã lâu
chưa về. Cha mẹ
chồng cho là con
trai mình đã
chết, nên ép
người con dâu đi
cải giá. Song cô
này lại muốn thủ
tiết, không
chịu, nên định
tối mai đến đây
thắt cổ tự tử.
Như vậy tôi có
thể tìm ra người
thay thế”.
Ứng Đại Do nghe
được lời này,
khởi lên tâm cứu
người, nên ngầm
bán đi miếng
ruộng của mình
được bốn lạng
bạc, vội viết
một lá thư giả
làm con trai của
gia đình đó,
cùng với số bạc
gởi đến nhà. Gia
đình xem xong
bức thư, tuy chữ
viết không phải
của con mình,
nhưng số bạc là
thật, nên cuối
cùng bán tín bán
nghi, vẫn hy
vọng con mình
còn sống, và
không ép con dâu
đi cải giá nữa.
Về sau con trai
của họ quả nhiên
trở lại, vợ
chồng hòa hợp
như xưa.
Lại nói Ứng Đại
Do sau khi cứu
người phụ nữ đó
xong, đêm sau
ông nghe con quỷ
đó nói: “Tôi
đáng lẽ có thể
đã tìm được
người thế thân,
không ngờ lại bị
gã Tú tài này
làm hỏng
chuyện!”Con quỷ
bên cạnh bảo:
“Sao mầy không
hại chết tên
đó!” Con quỷ đó
trả lời: “Thiện
thần thấy người
này có tâm từ
làm việc công
đức, nên ngày
đêm bảo hộ, làm
sao mà hại hắn
được!”
Ứng công sau khi
nghe hai con quỷ
nói, lại càng nổ
lực phát tâm
lành, công đức
cũng ngày một
sâu dày. Khi gặp
năm mất mùa đói
kém, ông đều bố
thí cơm gạo cứu
người. Gặp khi
thân thuộc có
nạn gấp, ông
nhất định tìm
cách giúp người
qua cơn khó
khăn. Khi gặp kẻ
oan gia, hay
việc bất như ý,
ông đều phản
tỉnh xét lại
mình, tự trách,
tâm bình khí hòa
chấp nhận sự
thật. Nhờ đó con
cháu của Ứng
công nhiều người
được công danh
quan vị, mãi đến
ngày nay vẫn
còn.
Chỉ cần làm
phước đức, cứu
giúp cho mọi
người, tự nhiên
được thiện thần,
đêm ngày thường
bảo hộ, thường
bảo hộ.
Huyện Thường
Thục tỉnh Giang
Tô có một vị
tiên sinh tên là
Từ Phụng Trúc,
cha của ông vốn
rất giàu có. Gặp
năm mất mùa đói
kém, ông đều
không lấy thuế
ruộng của tá
điền. Điều này
đã khiến các địa
chủ khác học
theo. Ngoài ra
ông còn đem lúa
gạo cứu giúp
người nghèo đói.
Một đêm, ông
nghe có tiếng
quỷ xướng lên
trước cửa: “Trăm
ngàn lần sự
thật, trăm ngàn
lần sự thật, Tú
tài nhà họ Từ,
sắp thi đậu Cử
nhân”.
Đêm nào cũng có
tiếng như thế
vang lên trước
cửa. Năm đó Từ
Phụng Trúc đi
thi Hương, quả
nhiên đỗ được Cử
nhân. Cha của
ông nhân đó rất
vui, càng nỗ lực
làm các việc
thiện, tích chứa
công đức. Ông
thường làm việc
xây cầu, đắp
đường, trai
Tăng, cúng dường
Tam Bảo... Gặp
người nghèo khó
cơ nhỡ, ông đều
ra tay cứu giúp.
Sau đó, ban đêm
ông lại nghe có
tiếng quỷ thần
kêu trước cửa:
“Trăm ngàn lần
thật, trăm ngàn
lần sự thật, Cử
nhân nhà họ Từ,
làm quan đến
Khâm sai”. Sau
này, Từ Phụng
Trúc quả nhiên
làm đến chức
Khâm sai tuần
phủ miền Triết
Đông và Triết
Nam thuộc tỉnh
Triết Giang.
Huyện Gia Hưng
tỉnh Triết Giang
có một vị họ Đồ,
tên là Khang Hi.
Ban đầu ông làm
chức quan chủ sự
ở bộ hình, ban
đêm ở trực trong
ngục, xét hỏi
cặn kẻ phạm
nhân. Nhờ vậy
ông phát hiện ra
nhiều vụ án oan
khuất. Nhưng Đồ
công không cảm
thấy mình có
công lao, chỉ âm
thầm đem những
vụ án oan này
tấu trình lên
quan truởng
thuộc bộ hình
xét xử.
Khi phúc thẩm
lần cuối trước
khi hành hình,
quan truởng bộ
hình dựa vào
những tài liệu
Đồ công cung
cấp, tra hỏi xét
xử đều đúng với
sự thật. Do đó,
quan truởng mới
tha tội cho
những người mà
trước đây vì
chịu không nỗi
nhục hình đã
khai nhận, song
thực chất lại vô
tội. Nhờ đó cứu
được mười mấy
người.
Lúc đó dân chúng
trong kinh thành
đều khen ngài
Thượng thư bộ
Hình sáng suốt
minh xét. Sau đó
Đồ công lại dâng
lên một bức tấu
trình, thưa
rằng: “Dưới chân
thiên tử còn có
nhiều người bị
oan khuất như
vậy, huống chi
là cả nước rộng
lớn, làm sao mà
không có người
bị oan khuất? Vì
vậy, xin kiến
nghị mỗi năm
phái một vị giảm
hình quan đi các
tỉnh tra xét kỹ
lại sự thật của
các vụ án. Nếu
quả như có tội,
thì định tội
cũng phải công
bình; còn như
oan khuất, nên
xét xử lại, giảm
nhẹ hay tha
bổng”.
Quan Thượng thư
bèn thay ông
dâng sớ điệp đó
lên vua. Vua
cũng phê chuẩn
cho lời kiến
nghị của ông,
bèn phái giảm
hình quan đến
các tỉnh để thẩm
tra. Đồ công
cũng ở trong
đoàn thanh tra
đó.
Một hôm họ Đồ
nằm mơ trông
thấy một vị thần
đến bảo: “Mệnh
của ông lý ra
không có con
trai, song nhờ
ông nêu ra cách
giảm hình án,
hợp với lòng
trời lòng người,
nên ông sẽ có ba
người con trai,
sau này đều làm
quan lớn “.
Không bao lâu vợ
của ông liền có
mang. Về sau
sinh ra Ứng Vẫn,
Ứng Khôn, Ứng
Tuấn đều làm
quan lớn.
Đồ Khang Hi, Đồ
Khang Hi! Xét xử
án tình rất phân
minh, không tham
công, giải oan
khuất, con cháu
nhờ đức được
quan chức, được
quan chức.
Có một vị người
Gia Hưng, tên
Bao Bằng, hiệu
Tín Chi. Cha của
ông từng làm
Thái thú của phủ
Trì Châu tỉnh An
Huy, sinh ra bảy
người con trai,
Bao Bằng là con
út. Ông vào ở rể
nhà họ Viên
huyện Bình Hồ,
thường qua lại
với ông nội con,
giao tình rất
thân. Học vấn
của ông uyên
bác, tài năng
rất cao, nhưng
mỗi lần đi thi
đều không đỗ. Do
đó ông đối với
Phật, Lão rất để
tâm nghiên cứu.
Một hôm ông đi
chơi ở Mão Hồ,
tình cờ trông
thấy trong ngôi
chùa làng vì
tường chùa hư
hại, nên Thánh
tượng Đức Quán
Thế Âm trở nên
trơ trọi lộ
thiên, mặc cho
gió táp mưa sa.
Lúc đó ông móc
túi ra, có tất
cả là mười lạng
bạc liền đem
cúng cho vị trụ
trì, nhờ tu sửa
gian nhà thờ Đức
Bồ Tát Quán Thế
Âm. Trụ trì nói
với ông: “Sửa
chùa là công
trình lớn, tiền
ít e không đủ
dùng, khó mà
hoàn thành”.
Nghe vậy ông lại
lấy bốn xấp vải
quý sản xuất tại
Tùng Giang, và
mở rương lấy ra
bảy chiếc áo mới
đưa hết tất cả
cho vị trụ trì.
Những người theo
hầu thấy vậy
khuyên ông không
nên cho nữa.
Nhưng Bao Bằng
bảo: “Chỉ cần
Thánh tượng Đức
Bồ Tát Quán Thế
Âm không bị mưa
ướt, thì thân
này dù có cởi
trần cũng không
sao!”
Trụ trì nghe
xong rơi lệ bảo:
“Cúng dường
tiền, vải, áo
quần không phải
khó. Nhưng thành
tâm đến mức này
thật là hiếm
có!”
Về sau, điện thờ
Quán Thế Âm Bồ
Tát được sửa
xong, Bao Bằng
lại đưa cha mình
đến nơi đó thăm,
và ở lại trong
chùa. Đêm đó Bao
Bằng nằm mộng,
trông thấy Hộ
pháp trong chùa
đến cám ơn, bảo:
“Ông làm được
công đức này,
con cháu nhiều
đời của ông sẽ
được quan chức,
phú quý!”
Về sau con của
ông là Bao Biện,
cháu là Bao
Thánh Phương đều
thi đậu tiến sĩ,
làm quan lớn.
Bao Tín Chi, Bao
Tín Chi, học vấn
tài năng đều
xuất chúng, tiếc
rằng công danh
lại không trúng.
Sau nhờ thành
tín cúng Quán
Âm, tu sửa chùa
chiền phụng
Thánh tượng, nhờ
vậy con cháu
phước vô lượng,
quan to lại kiết
tường, quan to
lại kiết tường.
Huyện Gia Thiện
tỉnh Triết Giang
có một người tên
là Chi Lập. Cha
của ông làm chức
Thư biện trong
phòng hình sự
huyện nha. Có
một phạm nhân bị
hại, mắc tội
oan, bị phán
quyết tử hình.
Thư biện họ Chi
thấy tội nghiệp,
tìm cách xin
quan trên giảm
tội chết cho
người đó. Người
đó biết được
lòng tốt của
ông, bèn bảo với
vợ: “Lòng tốt
của Chi công tôi
cảm thấy rất hổ
thẹn, không cách
chi báo đáp.
Ngày mai bà hãy
mời ông ta về
nhà, xin làm
thiếp hầu ông.
Ông ta nếu cảm
động trước ân
tình này, thì
tôi sẽ có cơ hội
được sống”.
Vợ của phạm nhân
nghe xong, không
có cách nào, chỉ
đành vừa khóc
vừa nhận lời.
Đến hôm sau, Chi
Thư biện về quê,
vợ của phạm nhân
ra mời Thư biện
uống rượu, và
đem ý chồng mình
ra nói với ông.
Nhưng Thư biện
đã kiên quyết từ
chối.
Song ông vẫn đem
hết khả năng của
mình ra tranh
biện cho phạm
nhân. Cuối cùng
vụ án được giải
quyết, trả lại
công bằng cho
người phạm nhân
bị oan.
Sau đó phạm nhân
ra ngục, vợ
chồng hai người
đến nhà Thư biện
lạy tạ bảo:
“Ngài có đức độ
sâu dày như vậy,
hiện nay thật
hiếm có người.
Nay ngài không
có con trai, tôi
xin dâng đứa con
gái đến làm
thiếp, lo việc
hầu hạ trong
ngoài. Về tình
về lý không có
gì quá đáng”.
Chi Thư biện
nghe lời của ông
xong, chuẩn bị
lễ vật, rước
người con gái đó
về làm thiếp,
sau này sinh
được một người
con trai tên Chi
Lập, mới hai
mươi tuổi đã đỗ
đầu Cử nhân, làm
quan đến chức
thư ký Hàn Lâm
Viện. Sau này
con của Chi Lập
là Chi Cao, con
của Chi Cao là
Chi Lộc đều làm
chức giáo thọ
trường huyện.
Con của Chi Lộc
là Chi Đại Luân
cũng thi đậu
tiến sĩ.
Chi Thư biện,
Chi Thư biện,
nhân từ không nỡ
để người oan,
không cầu báo
đáp giúp cho
người, do đó
phước tự nhiên,
phước tự nhiên.
Mười câu chuyện
kể trên, tuy mỗi
người mỗi việc
khác nhau, song
tất cả đều là
làm việc thiện.
Nếu phân loài kỹ
hơn, làm việc
thiện có thể
phâm làm: thật,
giả, ngay thẳng,
tà vạy, âm,
dương, lớn nhỏ,
khó dễ, v.v...
Mỗi loại đều có
đạo lý của nó,
phải phân biệt
rõ. Nếu chỉ lo
làm việc thiện
mà không biết
đạo lý làm việc
thiện, dễ đưa
đến khoe khoang,
tự đắc, nhiều
khi lại không
phải là làm việc
thiện mà là đang
tạo tội! Như vậy
há không phải
cực nhọc
vô ích, oan uổng
lắm sao? Nay sẽ
thuyết minh về
đạo lý làm thiện
nói trên.
Sao gọi là làm
thiện có thật có
giả?
Vào thời Nguyên
có mấy vị Nho
học đi tham kiến
Hòa thượng Trung
Phong ở núi
Thiên Mục, hỏi
rằng: “Nhà Phật
nói thiện ác báo
ứng như bóng
theo hình, vậy
sao hiện nay có
người làm thiện
mà con cháu trái
lại không hưng
vượng? Có người
làm ác mà con
cháu lại phát
đạt? Vậy lời
Phật nói về
thiện ác không
chứng cứ!”
Hoà thượng Trung
Phong đáp:
“Người bình
thường bị kiến
giải thế tục che
lấp, tâm sáng
suốt chưa từng
được tẩy gội. Vì
pháp nhãn chưa
mở, nên nhiều
khi họ cho rằng
hành vi làm
thiện đó là làm
ác; hành vi làm
ác lại cho là
làm thiện. Ta
làm sai, nhiều
lúc không biết
tự trách mình
điên đảo, lại
oán trời trách
đất, bảo là báo
ứng không đúng.
Mọi người lại
hỏi: “Thiện là
thiện. Ác là ác.
Sao lại có
chuyện thiện ác
trái ngược?”
Hòa thượng Trung
Phong nói: “Làm
việc lợi ích cho
người gọi là
thiện; làm chỉ
có lợi cho mình
gọi là ác. Làm
việc lợi ích cho
người, dù là
mắng chửi, đánh
đập, cũng là
thiện; còn việc
chỉ có lợi cho
mình, cho dù
cung kính, lễ độ
với người cũng
gọi là ác. Cho
nên, một người
làm được việc
thiện, khiến
người khác có
được lợi ích gọi
là việc công,
cũng tức là việc
thiện chân thật;
còn chỉ muốn
mình được lợi
ích, gọi là việc
tư, tức là việc
thiện giả dối.
Lại nữa, việc
thiện xuất phát
từ lương tâm, từ
tâm từ bi của
mình gọi là chân
thật; còn việc
thiện nếu chỉ có
hình thức, làm
cho người ta
thấy mà thôi thì
gọi là giả dối.
Lại nữa, làm
việc thiện không
cầu quả báo,
không có chấp
trước, đó là
chân thật; song
nếu chấp vào mục
đích nào, có tâm
mong cầu quả báo
để làm việc
thiện, đó là giả
dối. Những việc
làm thiện như
vậy, mình phải
cẩn thận suy xét
mới được.
Sao gọi là ngay
thẳng và tà vạy?
Người ta hiện
nay trông thấy
kẻ cẩn thận,
không cứng cỏi
phần lớn đều
khen người đó là
người lương
thiện, và rất
tôn trọng họ.
Song Thánh hiền
thời xưa, lại
rất quý trọng
người có chí
khí, quyết hướng
đến trước, hoặc
kẻ giữ mình
trong sạch,
không chịu xu
thời. Bởi vì
hạng người này,
mới có ý chí,
mới có can đảm
gánh vác trách
nhiệm, có thể
dạy họ, khiến họ
tiến bộ.
Còn như những
người xem có vẻ
là người tốt,
cẩn thận lại vô
dụng, tuy ở
trong làng xóm
mọi người ưa
thích, song vì
cá tính của họ
yếu đuối, sống
mặc theo thế
tục, không có
chí khí, cho nên
Thánh nhân bảo
hạng người đó là
tên giặc làm hại
đến đạo đức. Như
thế mà xét, thì
người phàm tục
nói đến quan
niệm thiện ác,
thật ra trái với
lời của thánh
nhân.
Người phàm tục
bảo là thiện,
Thánh nhân lại
cho nó là ác.
Người phàm tục
bảo là ác, Thánh
nhân lại cho nó
là thiện. Từ
phương diện này
suy ra những
việc khác, người
phàm tục thích,
hay không thích
cái gì cũng đều
trái với Thánh
nhân. Thiện thần
gia hộ người
thiện, và nhân
quả báo ứng đều
khế hợp với quan
điểm Thánh nhân,
song nhiều lúc
lại không hợp
với quan niệm
của người phàm
tục. Cho nên
phàm làm việc
thiện, quyết
không thể bị âm
thanh, sắc tướng
mà mình ưa thích
lợi dụng, nhắm
mắt đi theo cảm
giác. Cần phải
sáng suốt tư duy
chỗ khởi tâm
động niệm của
mình, gội sạch
những tâm niệm
bất chính, cầu
danh, giả dối,
trở lại tâm chí
thành thanh
tịnh.
Cho nên, việc
thiện nếu xuất
phát từ tâm cứu
người đó là ngay
thẳng; còn như
ôm lòng cầu
danh, lấy lòng
người khác đó
gọi là tà vạy;
nếu xuất phát từ
tâm tôn trọng
người khác, thì
gọi là ngay
thẳng; còn như
có chút coi
thường, đùa bỡn
đó là tà vạy.
Những điều này
phải suy xét rõ
ràng.
Sao gọi là việc
thiện có âm có
dương?
Phàm người làm
việc thiện được
người ta biết
đến gọi là dương
thiện; làm việc
thiện mà không
người biết đến
thì gọi là âm
đức. Người có âm
đức, Long thần
Hộ pháp đều biết
và bảo hộ, phước
đức tự nhiên
cũng đến. Người
có dương thiện,
mọi người đều
biết, khen ngợi,
huởng được tiếng
thơm trong đời.
Song phải chú ý,
tiếng khen trong
đời dễ khiến
lòng người kiêu
ngạo, thường gặp
những tai nạn
bất ngờ. Như một
người không có
sai lầm gì lại
bị oan uổng, vô
duyên vô cớ bị
người gán cho
tiếng ác. Nhưng
có khi con cháu
của họ lại được
thành đạt. Cho
nên dương thiện
và âm đức có sự
sai khác vi tế,
không thể không
suy xét kỹ.
Sao gọi là việc
thiện có đúng có
sai?
Vào thời Xuân
Thu thuở xưa,
nước Lỗ có một
luật định, nếu
người nước Lỗ bị
nước khác bắt đi
làm nô lệ, mà có
ai dùng tiền
chuộc ra, thì
người đó có thể
đến quan phủ
lãnh tiền
thuởng. Song học
trò của Khổng tử
là Tử Cống tuy
giúp chuộc nô lệ
ra, lại không
chịu nhận tiền
thuởng. Ông
không nhận tiền,
chủ ý chỉ vì
giúp người mà
không phải vì
tiền thuởng, vốn
rất tốt. Nhưng
khi Khổng tử
nghe được, không
vui bảo: “Việc
này Tử Cống đã
làm sai. Phàm
Thánh Hiền làm
việc gì phải
nghĩ đến việc
làm của mình sau
này sẽ ảnh huởng
đến phong tục
tốt đẹp. Như dạy
bảo, dắt dẫn
nhân dân trở nên
người tốt; mà
không nên vì cá
nhân mình cảm
thấy thích là
làm. Hiện nay
người trong nước
Lỗ phần nhiều là
nghèo. Nếu cho
nhận tiền thuởng
là tham tài, thì
người ta sẽ sợ
mang tiếng tham
tài, và không có
tiền, nên không
chịu đi chuộc
những người nô
lệ. Như vậy e
rằng sau này sẽ
không có ai đi
chuộc những
người bị bắt làm
nô lệ đó!
Tử Lộ thấy một
người té xuống
sông, liền cứu
người đó lên bờ.
Người đó đem một
con trâu đến
biếu tạ Tử Lộ,
Tử Lộ liền nhận.
Khổng tử biết
việc, rất vui
bảo: “Từ nay về
sau, nước Lỗ sẽ
có nhiều người
chủ động cứu vớt
người rơi xuống
sông!”
Qua hai câu
chuyện trên
chúng ta thấy,
nhìn theo con
mắt thế tục, Tử
Cống không nhận
tiền thuởng là
tốt; Tử Lộ nhận
con trâu là
không tốt. Song
không ngờ, Khổng
tử khen Tử Lộ,
mà lại trách Tử
Cống! Như vậy
xem ra, muốn
biết một người
làm việc thiện
hay ác, không
thể chỉ nhìn
trên kết quả
trước mắt, mà
phải xét đến
hiệu quả lâu
dài; không thể
chỉ nghĩ đến ảnh
huởng trong hiện
tại, mà phải xét
đến việc đúng
sai ở tương lai.
Không thể chỉ
luận cá nhân đắc
thất, mà phải
nghĩ đến quan hệ
đại chúng.
Hiện nay làm tuy
là thiện, song
nếu lưu truyền
về sau, có hại
cho người, thì
đó cũng không
phải là thiện.
Hiện nay làm tuy
không phải là
thiện, song nếu
lưu truyền sau
này, có thể giúp
đỡ người khác,
thì tuy dường
như bất thiện,
mà thực ra là
thiện. Đây chẳng
qua chỉ nêu ra
một việc để nói
thôi, những việc
khác lại rất
nhiều. Ví dụ như
một người làm
việc nên làm gọi
là nghĩa, song
có lúc, việc
nghĩa cũng sai
lầm, trở lại là
việc ác.
Ví như người xấu
ác có thể không
cần phải khoan
thứ, song nếu có
người khoan thứ
cho họ, thì cũng
không thể bảo đó
là việc bất
nghĩa. Song nếu
khoan thứ cho
hắn, lại khiến
hắn ta ỷ lại,
làm nhiều việc
ác hơn nữa, kết
quả nhiều người
do đó bị hại, ta
cũng vì thế mang
tội. Chi bằng
không khoan thứ,
cho họ sự cảnh
cáo, khiến hắn
không dám phạm
tội thì tốt hơn.
Không khoan thứ
là bất nghĩa;
khiến họ không
tái phạm là
nghĩa. Đó gọi là
việc nghĩa mà
dường như bất
nghĩa.
Lễ độ là một đức
tốt, mọi người
nên học, nhưng
cần có mức độ.
Đối đãi người lễ
độ là đúng, song
nếu quá đáng,
trở lại khiến
người trở nên
kiêu ngạo, hay
thành ra nịnh
nọt, cúi lòn,
thì là phi lễ.
Chữ tín rất quan
trọng, song phải
xem tình hình.
Ví dụ như vì giữ
chữ tín nhỏ mà
làm lỡ việc lớn,
trái lại làm mất
đi chữ tín lớn,
thì đó không
phải là tín.
Yêu thương người
vốn là lòng từ,
song nếu yêu
thương quá đáng,
trở lại khiến
người ỷ lại, hư
hỏng, thì đó
không phải là
lòng từ. Cho nên
phải suy nghĩ kỹ
vấn đề này, phán
đoán cẩn thận.
Sao gọi là công
chánh và thiên
lệch?
Tể tướng triều
Minh trước đây
là Lã Văn Ý khi
vừa từ chức Tể
tướng về quê, vì
ông làm quan
thanh liêm, công
chánh, toàn quốc
đều hết sức kính
quý. Song không
ngờ có một người
nhà quê sau khi
uống rượu say,
mắng Lã công.
Song Lã công
không vì thế mà
nóng giận, còn
nói với người
làm của mình:
“Tên này uống
rượu say, không
nên chấp nhất”.
Lã công liền
đóng cửa, không
để ý đến. Một
năm sau, tên này
phạm tội chết bị
đưa vào ngục. Lã
công mới hối hận
bảo: “Nếu lúc đó
dạy cho hắn một
bài học, đưa đến
quan phủ trị
tội, có thể trị
tội nhỏ để ngăn
tội lớn, thì đâu
đến đỗi có ngày
nay hắn bị tử
tội! Ta lúc đó
chỉ vì không nỡ,
mới tha, không
ngờ trở lại làm
hại hắn!
Tên đó ban đầu
ngỡ là ngay cả
mắng Tể tướng
cũng không sao,
nên mới tiếp tục
phạm tội, gây
nên kết quả xử
chết. Đó là ví
dụ về người có
tâm thiện mà lại
làm việc ác.
Cũng có khi, có
tâm ác mà làm
việc thiện. Ví
dụ như có một
nhà giàu gặp năm
đói kém, người
nghèo đói ban
ngày cướp gạo ở
chợ. Người nhà
giàu bèn đi thưa
đến quan huyện.
Quan huyện lại
không chịu xử vụ
này. Những người
nghèo đó càng
lộng hành, ngang
nhiên lấy của
người. Do đó,
người giàu bèn
cho người bắt
giam tên đó lại.
Những người khác
thấy vậy không
dám cướp giật
nữa. Nếu không
làm vậy chợ búa
sẽ loạn. Cho nên
tuy thiện là
công chánh, ác
là thiên lệch,
nhưng cũng có
trường hợp động
cơ làm thiện mà
bên ngoài làm
việc ác. Đạo lý
này mọi người
phải suy nghĩ
kỹ.
Sao gọi là việc
thiện phân nửa
và trọn vẹn?
Kinh Dịch nói:
Một người không
tích thiện, thì
không có danh
tiếng tốt; một
người không tích
ác, thì không có
họa sát thân.
Kinh Thư cũng
bảo: Tội ác của
vua Trụ, đầy
giống như xâu
tiền đã xỏ đầy,
như thùng đồ đã
hết chỗ.
Nếu ta cố gắng
để dành mỗi ngày
thì nhất định sẽ
có khi đầy. Nhà
Thương từ khi mở
nước cho đến vua
Trụ, tội ác tích
chứa đã đầy, do
đó không mấy
chốc mất nước.
Nếu không chất
chứa, thì sẽ
không đầy. Cho
nên nói tích
thiện, tích ác
như chứa đồ. Đó
là nói làm việc
thiện phân nửa
và đầy đủ.
Ngày xưa có một
cô gái nghèo đến
chùa lễ Phật,
chỉ có hai đồng
tiền đem ra cúng
dường hết. Không
ngờ vị Hòa
thượng trụ trì
lại đích thân
đến trước Phật
hồi hướng công
đức, cầu tiêu
trừ tội chướng
cho cô. Sau này
cô ta được cho
vời vào cung làm
quý phi. Sau khi
giàu có, cô mang
mấy ngàn lạng
bạc đến chùa
cúng. Nhưng lần
này Hòa thượng
trụ trì lại sai
đệ tử của mình
hồi hướng cho
cô. Cô này không
hiểu tại sao lần
trước bố thí ít
lại được Hòa
thượng trụ trì
coi trọng, còn
lần này lại
không. Mới hỏi:
“Con lần trước
chẳng qua chỉ bố
thí hai đồng
tiền, thầy lại
đích thân hồi
hướng. Lần này
con cúng dường
hai ngàn lạng
bạc, thầy lại
không đích thân
hồi hướng cho
con, không biết
là vì lý do gì?”
Vị trụ trì trả
lời: “Trước đây
con cúng dường
tuy ít, song vô
cùng chí thành
chí thiết, nên
thầy nếu không
đích thân hồi
hướng e không
xứng vớI tâm
thành này. Nay
con bố thí tuy
nhiều, song
không chân thiết
chí thành như
lần trước, cho
nên thầy cho
người hồi hướng
thay cũng đủ!
Vì vậy, hai đồng
tiền bố thí vẫn
kể là việc thiện
trọn vẹn, hai
ngàn lạng bạc
vẫn coi là việc
thiện phân nửa.
Vào triều Hán,
đạo sĩ Chung Ly
đem phương pháp
luyện đơn của
mình truyền cho
Lã Động Tân, có
thể chỉ sắt hóa
vàng, đem ra cứu
giúp cho người
nghèo. Lã Động
Tân hỏi Chung
Ly: “Sắt biến
thành vàng, xin
hỏi bao lâu lại
biến thành sắt?”
Chung Ly đáp:
“Sau năm trăm
năm, sẽ biến
thành sắt”. Lã
Động Tân bảo:
“Như vậy sẽ hại
người năm trăm
năm sau. Tôi
không muốn làm
việc như vậy”.
Chung Ly dạy Lã
động Tân điểm
sắt hóa vàng
chẳng qua là
muốn thử tâm của
ông mà thôi. Cho
nên khi nghe Lã
Động Tân nói như
vậy, biết là ông
có tâm lành chân
thật, mới nói:
“Tu tiên phải
tích chứa đủ ba
ngàn việc công
đức. Ông nói
được một lời như
vậy thì ba ngàn
công đức đã đủ”.
Đây chỉ là một
lời nói mà công
đức viên mãn.
Lại nữa, làm
việc thiện không
nên bao giờ cũng
nhớ đến, cho là
mình làm được
việc rất vĩ đại!
Nếu tâm được vô
chấp như vậy,
cho dù chúng ta
làm việc thiện
gì bất luận lớn
nhỏ, đều là công
đức viên mãn.
Còn như cả đời
cố gắng làm việc
thiện mà cứ chấp
tướng, chấp
công, thì vẫn là
việc thiện không
viên mãn.
Ví như đem tiền
ra giúp đỡ
người, phải
không thấy mình
là người cho,
đối tượng là
người nhận, và
vật được cho quý
giá như thế nào.
Đó gọi là tam
luân không tịch.
Mình, người, vật
đều bất khả đắc,
chỉ có nhất tâm
thanh tịnh. Nếu
làm việc bố thí
được như vậy,
cho dù bố thí
chỉ một đấu gạo,
cũng có thể gieo
trồng công đức
vô biên; cho dù
bố thí một đồng,
cũng tiêu trừ
được vô lượng
nghiệp chướng.
Còn nếu đem tâm
chấp tướng, chấp
công ra bố thí,
cho dù là bố thí
hai mươi vạn
lạng vàng cho kẻ
nghèo, công đức
vẫn không viên
mãn.
Sao gọi là việc
thiện lớn, việc
thiện nhỏ?
Trước đây có một
người tên gọi Vệ
Trọng Đạt làm
quan trong Hàn
Lâm học viện. Có
một lần bị quỷ
dẫn hồn đến địa
phủ. Phán quan
bảo Thư biện đem
quyển sổ ghi
công tội của ông
khi ở trên dương
gian cho xem.
Khi quyển sổ ác
đem đến, việc ác
ghi nhiều đến
đỗi chất đầy cả
sân, còn ghi
việc thiện chẳng
qua chỉ là một
quyển sách nhỏ.
Phán quan lại
bảo đem hai loại
sổ ghi thiện ác
đem cân xem bên
nào nặng, bên
nào nhẹ. Không
ngờ, số lượng sổ
ghi việc ác tuy
nhiều, song lại
nhẹ hơn một
quyển sổ ghi
việc thiện!
Vệ Trọng Đạt lúc
đó hỏi: “Tôi chỉ
có bốn mươi
tuổi, lẽ nào lại
phạm nhiều tội
ác như thế sao?”
Trả lời: “Chúng
sinh ở cõi trần,
khởi tâm động
niệm không chi
là chẳng phải
tội, chẳng phải
nghiệp. Đâu cần
đợi đến có hành
động làm mới gọi
là tạo tội?”
Vệ Trọng Đạt lại
hỏi quyển sổ ghi
việc thiện kia
là điều thiện
gì? Phán quan
trả lời: “Vua
từng có lần định
xây cầu đá ở Tam
Sơn là công
trình rất lớn.
Người từng tâu
sớ lên can ngăn
việc này, để
tránh làm khổ
cho dân”.
Vệ Trọng Đạt
bảo: “Tôi có
trình lên, song
vua lại không
nghe lời, vẫn cứ
tiến hành. Vậy
việc tấu sớ của
tôi cũng có giá
trị sao?” Phán
quan bảo: “Vua
tuy không nghe
lời can gián,
nhưng tâm lành
muốn trăm ngàn
nhân dân của ông
khỏi cảnh khốn
cực, cũng đủ đã
vô lượng. Nếu
vua nghe lời thì
công đức đó càng
lớn”.
Cho nên lập chí
làm việc thiện,
mục đích là lợi
ích cho nhân
dân, đất nước,
thì việc thiện
dù nhỏ, song
công đức lại rất
lớn. Giả sử chỉ
vì lợi ích riêng
mình, thì việc
thiện dù nhiều,
mà công đức cũng
chẳng bao nhiêu.
Sao gọi là việc
thiện khó làm và
dễ làm?
Bậc tiên triết
xưa bảo: “Khắc
chế lòng tư dục
của mình, phải
bắt đầu từ nơi
khó trừ nhất ra
tay”. Học trò
của Khổng tử là
Phàn Trì hỏi
Khổng tử: “Sao
gọi là nhân”?
Khổng tử trả
lời: “Phải từ
nơi khó ra sức”.
Khổng tử nói nơi
khó, tức là chỉ
trừ đi lòng tư
dục. Như Thư
tiên sinh ở tỉnh
Giang Tây, ông
dạy học ở nhà
người được hai
năm, dùng tất cả
tiền lương giúp
đỡ cho một gia
đình nghèo trả
nợ, cứu cho họ
khỏi cảnh bán vợ
đợ con.
Lại như Trương
tiên sinh ở
huyện Hàm Đan
tỉnh Hà Bắc, ông
trông thấy một
nghèo đem cầm vợ
đợ con, song
tiền thì tiêu
xài hết cả. Nếu
không có tiền đi
chuộc vợ con, e
rằng họ sống
cũng không được.
Do đó ông đem
hết số tiền mình
dành dụm trong
mười năm ra
chuộc lại vợ con
cho người đó.
Trương tiên sinh
và Thư tiên sinh
thật là làm được
việc thiện khó
làm, những người
khác khó làm
được như vậy.
Lại như ở huyện
Trấn Giang tỉnh
Giang Tô có một
vị họ Cận, tuy
tuổi lớn mà
không có con
trai. Một người
hàng xóm nghèo
đồng ý gả con
gái của mình cho
ông làm thiếp,
mong sinh cho
ông được một mụn
con trai. Song
ông họ Cận này
không muốn làm
lỡ tuổi xuân của
cô ta, nên đã từ
chối. Trước sắc
đẹp mà có thể
nhẫn nại được
thật là việc khó
nhẫn, mà vị họ
Cận này lại nhẫn
được. Đây là
điều thiện khó
làm. Những người
nêu trên, xét
lại cuộc đời của
họ và con cháu
sau này, đều
hạnh phúc, thành
đạt mỹ mãn. Thế
mới biết nhân
quả không có sai
chạy.
Phàm là người có
tiền, có thế
muốn làm công
đức so với người
bình thường dễ
hơn nhiều. Song
họ lại không
chịu làm. Đó gọi
là tự làm lỡ
mình, đánh mất
cơ hội tốt. Còn
người nghèo cùng
muốn làm phước
thật là rất khó,
song nếu họ làm
được mới thật sự
đáng quý. Chúng
ta sống ở đời,
nếu gặp phải cơ
duyên nên tùy
sức tùy phận
giúp đỡ người
khác. Có điều
cứu giúp mọi
người cũng không
phải là việc dễ
dàng, và cách
thức lại rất
nhiều. Nay lược
nêu ra mười
điều:
Một, giúp người
làm thiện. Khi
thấy người có
lòng lành, ta
phải khuyến
khích, giúp đỡ
khiến cho tâm
lành của họ ngày
càng tăng
truởng. Người
khác làm việc
lành, sức không
đủ, làm không
thành, ta phải
trợ giúp khiến
việc lành đó
thành tựu. Đó là
tùy hỉ khuyến
trợ việc thiện.
Hai, có lòng
thương yêu kính
trọng. Chúng ta
phải có lòng
thương yêu kính
trọng không
những là người
học vấn, tuổi
tác, vai vế lớn
hơn mình, mà
ngay cả người
nhỏ tuổi, vai vế
thấp, nghèo hèn,
mình cũng phải
bình đẳng quý
trọng.
Ba, là thành tựu
cho người. Ví
như có một người
định làm một
việc tốt, song
chưa quyết định,
thì ta phải
khuyên họ nên
hết lòng hết sức
làm. Lúc người
khác làm việc
lành, nếu gặp
chướng ngại,
không thể thành
công, thì ta nên
tìm cách chỉ dẫn
họ, khích lệ họ
khiến thành
công, mà không
được sinh tâm
ganh tỵ đi phá
hoại họ.
Bốn, khuyên
người làm việc
thiện. Gặp người
làm việc ác,
phải nói nhân
quả cho họ nghe,
làm ác nhất định
gặp ác báo. Gặp
người không chịu
làm việc thiện,
hay chỉ làm
những việc thiện
nhỏ nhoi, thì ta
phải khuyên họ,
khiến biết được
làm việc thiện
quyết định có
quả báo tốt đẹp,
nên không những
phải hoan hỉ
làm, mà còn phải
hết sức làm.
Năm, cứu người
khi nguy cấp.
Người ta thường
thích trên gấm
thêm hoa, song
lại thiếu tinh
thần biếu than
mùa tuyết lạnh.
Đây là nói người
khá giả quyền
thế thì lắm
người xu phụ,
còn kẻ nghèo hèn
lại không ai
quan tâm. Cho
nên, khi chúng
ta gặp người
đang lúc nguy
hiểm khó khăn,
khẩn cấp nhất mà
kịp thời giúp
đỡ, ra tiền ra
sức đưa họ vượt
khỏi cảnh khó,
có thể nói là
công đức vô
lượng. Song phải
cẩn thận đừng để
khỏi tâm ngạo
mạn.
Sáu, làm việc
lợi ích lớn.
Việc lợi ích
lớn, cần người
có năng lực lớn
mới làm được.
Người có năng
lực lớn, cũng
nên làm việc lợi
ích lớn cho nhân
quần xã hội. Ví
dụ như: làm hệ
thống thủy lợi,
cứu giúp khu
thiên tai hỏa
hoạn. Song có
khi không cần
phải có năng lực
lớn cũng làm
được việc lợi
ích lớn. Như chỉ
cần thấy bờ đê
có lỗ mọi nhỏ,
nghĩ đến bờ đê
có thể vì lỗ mọi
này mà đưa đến
vỡ lở, làm rất
nhiều sinh mạng
và tài sản bị đe
dọa, nên phát
tâm lấp lại. Đây
tuy là việc làm
nhỏ song lợi ích
lại rất lớn.
Bảy, xả tài sản
làm việc phước.
Tục ngữ nói:
Người ta vì tham
tiền tài mà
chết. Người đời
lòng luôn yêu
tiếc tiền bạc,
tài sản. Tiền
của càng nhiều
càng tốt, có ai
lại bỏ của cải
ra giúp cho
người khác? Cho
nên, có thể bỏ
tiền bạc ra cứu
giúp người khác,
đối với người
bình thường đã
là việc rất khó,
đối với người
nghèo cùng còn
khó và đáng quý
hơn nhiều. Nếu
nói theo nhân
quả, có xả mới
có được, không
biết xả bỏ sẽ
không được. Làm
một phần thiện,
thì được một
phần phước báo.
Cho nên không
phải e ngại
rằng, mình xả
tài vật ra cứu
người, sẽ khiến
cho đời sống của
mình trở nên bần
cùng.
Tám, hộ trì
Chánh Pháp. Pháp
đây là chỉ pháp
tắc chân lý, đạo
lý làm người.
Bất cứ đạo lý gì
chúng ta cũng
phải suy gẫm xem
nó có hợp với
chánh đạo hay
không? Có làm
hại cho thế đạo
nhân tâm hay
không? Nếu là tà
giáo có hại,
nhất định phải
cấm chỉ. Còn như
là Phật pháp
chánh tri kiến,
khuyến hóa chỉ
đạo lòng người
trở về nẻo chánh
quang minh, xây
dựng phong tục
tốt đẹp cho xã
hội, thì ta phải
hết lòng hộ trì.
Nếu có ai phá
hoại, ta cũng
phải dũng cảm
đứng ra bảo vệ
chân lý, không
để chánh pháp
suy tàn.
Chín, kính trọng
bậc tôn truởng.
Phàm là người
học vấn sâu,
kiến thức rộng,
vai vế lớn, tuổi
tác cao hay có
chức vị đều là
bậc tôn truởng.
Chúng ta phải
kính trọng,
không được coi
thường hay vô
lễ.
Mười, yêu tiếc
sinh mệnh của
chúng sinh. Phàm
là loài có sinh
mạng, không luận
trùng kiến,
chúng đều có tri
giác, biết đau
khổ, tham sống
sợ chết. Cho nên
chúng ta phải
yêu thương, sao
lại có thể tàn
sát để ăn? Có
người bảo:
“Những con vật
này sinh ra để
cho con người
ăn”. Nói như vậy
không đúng. Đây
chẳng qua là lời
của kẻ tham ăn
bịa đặt ra.
Mười điều nói ở
trên chỉ là đại
khái. Sau đây sẽ
nêu ra ví dụ
giảng rộng.
Sao gọi là giúp
ngưòi làm việc
thiện?
Ngày xưa, vua
Thuấn triều Ngu
khi chưa làm
vua, ông trông
thấy những người
đánh cá tuổi trẻ
ở bên hồ Lôi
Trạch đều chọn
nơi nước sâu để
đánh bắt; còn
những người già
sức yếu, thì
đánh bắt ở nơi
cạn nước chảy
xiết.
Nơi cạn nước
chảy xiết, cá
không tụ tập,
nên ít cá hơn
nơi nước sâu.
Như vậy chỗ cá
nhiều đều bị
những người tuổi
trẻ chiếm cả.
Thuấn trông thấy
việc này, trong
lòng rất thương
những người lớn
tuổi sức yếu.
Ông mới nghĩ ra
một cách giúp đỡ
những người già
yếu này. Ông
cũng đi đánh bắt
cá với mọi
người, tuy là
tuổi trẻ, ông
lại không giành
chỗ nước sâu cá
nhiều, mà lại
nhường cho người
khác. Đi đâu ông
cũng khen ngợi
tán thán những
người biết
nhường. Nhờ đó
đã gián tiếp
nhắc nhở những
người trẻ tuổi
biết xét lại,
cảm thấy hổ
thẹn. Không đầy
một năm, mọi
người đều biết
nhường chỗ có cá
nhiều cho người
già yếu.
Câu chuyện của
vua Thuấn chẳng
qua dùng để
khuyên người đời
biết nhường
nhau, mà không
phải nói bắt cá
là tốt. Thực ra,
sát sinh là tội
lớn, không thể
vi phạm. Vua
Thuấn lấy mình
làm gương, từ từ
cảm hóa người
khác, bỏ ra mất
một năm mới có
kết quả, thật là
dụng tâm hết
mực.
Chúng ta hiện
nay sống trong
xã hội có nhiều
hiện tượng bại
hoại, thói xấu,
muốn làm người
thật rất khó.
Cho nên, người
khác có gì không
bằng mình, không
nên đem sở
trường của mình
ra lấn lướt
người khác.
Người khác có gì
thua kém mình,
cũng đừng đem ra
so với người.
Mình cho dù có
tài ba thông
minh, cũng phải
giấu đi, như ngu
si kém cỏi.
Nhìn thấy lỗi
lầm người khác,
tạm thời che
giấu, cho họ có
cơ hội cải đổi,
ngoài ra khiến
họ biết e ngại
không dám làm
quấy nữa. Còn
nếu ép bức người
thái quá, đến
bước đường cùng,
họ sẽ làm liều,
không còn e dè
gì nữa.
Nếu thấy người
khác có việc gì
hay, dù nhỏ cũng
phải học hỏi; có
việc gì tốt, dù
nhỏ cũng phải
ghi nhớ. Không
nên có thành
kiến, tự cho là
phải, mà phải
biết học hỏi cái
hay của người,
khen ngợi, tuyên
dương những điều
tốt đẹp của kẻ
khác. Trong cuộc
sống hàng ngày,
phàm nói ra hay
làm việc gì, đều
phải vì lợi ích
mọi người, mà
không nên xuất
phát từ ý tuởng
tự tư tự lợi.
Nếu lập được
nguyên tắc sống
này, tự mình
tuân hành và
khiến người cùng
tuân hành, thì
đó mới là nhân
vật vĩ đại, có
độ lượng vì tất
cả mọi người mà
không có chút
riêng tư.
Sao gọi là có
lòng ái kính?
Quân tử và tiểu
nhân chỉ xem bề
ngoài rất dễ lầm
lẫn. Bởi vì, kẻ
tiểu nhân thường
giả dạng quân
tử, làm bộ nhân
nghĩa. Song
trong lòng của
người quân tử và
tiểu nhân lại
khác xa trời
vực, một đàng là
thiện, một đàng
là ác, rõ ràng
như đen trắng
trái nhau. Cho
nên Mạnh tử nói:
“Quân tử khác
với tiểu nhân là
ở chỗ tâm niệm”.
Tâm niệm của
người quân tử là
thương yêu, kính
trọng người.
Người ta có kẻ
sang người hèn,
kẻ thân người
sơ, kẻ thông
minh người ngu
độn, kẻ đạo đức
người hạ lưu,
song tất cả đều
có sinh mệnh, có
máu thịt, có tri
giác không khác,
nên phải bình
đẳng kính yêu.
Kính yêu mọi
người tức là
kính yêu hiền
thánh. Vì sao
như vậy?
Vì lẽ Hiền Thánh
đều hy vọng mọi
người trên đời
đều có thể an cư
lạc nghiệp, sống
hạnh phúc an
lạc. Cho nên,
chúng ta kính
yêu mọi người,
khiến họ an lạc
hạnh phúc, đó là
thay thế Hiền
Thánh khiến thế
giới an lạc hạnh
phúc.
Sao gọi là thành
tựu cho người?
Ví dụ nói, một
khối đá bên
trong có ngọc,
nếu vứt bỏ lăn
lóc thì không
khác gì ngói
gạch không chút
giá trị. Nếu gọt
đẽo khối đá đó,
khiến ngọc bên
trong hiển lộ,
sẽ trở nên vật
báu hiếm có.
Người ta cũng
vậy, đều nhờ sự
dạy bảo nhắc nhở
mới nên người.
Cho nên thấy ai
làm được việc gì
tốt, biết lập
chí hướng
thượng, thì ta
nên chỉ dẫn, cất
nhắc, khen ngợi,
khích lệ người
đó, khiến họ trở
nên nhân tài hữu
dụng cho xã hội.
Nếu có ai đổ
oan, thì phải
biện giải oan
khúc cho họ,
chia sẻ những
lời ác ý, hủy
báng.
Phải khiến họ có
thể lập thân
trong xã hội,
mới gọi là tận
tâm sức của ta.
Người lành được
người hiền minh
yêu mến bao
nhiêu, thì kẻ ác
thù ghét bấy
nhiêu. Cho nên
xưa nay tiểu
nhân đố kỵ quân
tử, kẻ ác thù
ghét người lành
là việc thường
xảy ra.
Trong cùng một
làng xóm, người
lành thì ít, kẻ
ác lại nhiều. Vì
vậy người lành
thường bị kẻ ác
hãm hại, khó mà
có được chỗ
đứng. Huống chi
kẻ hào kiệt đa
số tánh tình
cương trực,
không a dua, lại
không chú ý ra
vẻ bên ngoài.
Những kẻ phàm
tục, tầm nhìn
cạn cợt, chỉ
thấy bên ngoài,
liền đặt điều
thị phi, tùy
tiện phê bình.
Cho nên kẻ hào
kiệt làm việc
thiện dễ thất
bại, người lành
cũng hay bị
người hủy báng.
Gặp những trường
hợp đó, chỉ có
nhờ vào các bậc
truởng thượng
đạo đức, mới có
thể khiến người
ác cải tà quy
chánh, bảo vệ
giúp đỡ người
lành, khiến họ
thành công. Công
đức phá dẹp tà
ác, hiển phát
chân chánh như
vậy, thật to lớn
nhất.
Sao gọi là
khuyên người làm
lành?
Ai sống ở đời mà
không có lương
tâm? Song do vì
tham cầu danh
lợi, đeo đuổi
vật dục nên mê
mờ đi lương tâm,
bất chấp thủ
đoạn, trở nên sa
đọa. Cho nên qua
lại với người,
phải chú ý đến
tư tuởng hành vi
của họ, thấy hơi
có biểu hiện sa
đọa liền nhắc
nhở, cảnh giác,
khiến họ thức
tỉnh ăn năn. Như
đánh thức người
trong cơn ác
mộng, chúng ta
phải thức tỉnh
kẻ đang bị trói
buộc trong lưới
phiền não, khiến
họ thoát ra,
được an lạc mát
mẻ.
Lấy ân huệ để
đối đãi với
người như vậy
thì công đức sẽ
vô lượng vô
biên. Thuở xưa
Hàn Văn Công
từng bảo: “Dùng
miệng khuyên
người chỉ trong
nhất thời, nghe
qua dễ quên, lại
ở nơi khác không
thể được nghe.
Dùng văn tự
khuyên người có
thể lưu truyền
vạn thế và
truyền bá khắp
nơi”. Cho nên,
làm việc thiện
trong đó có lập
ngôn khuyên
người, là việc
làm công đức vô
lượng.
Ở đây nói dùng
lời nói và văn
tự khuyên người
làm lành có vẻ
như còn vướng
mắc vào hình
thức. Song thực
ra, công năng
của nó thực vô
cùng to lớn, có
thể cải hóa lòng
người, thay đổi
hoàn cảnh.
Chúng ta khuyên
người làm lành
phải khuyên cho
thích đáng, tùy
đối tượng,
trường hợp. Nếu
gặp kẻ cố chấp
không nghe, ta
nên tùy duyên,
đừng miễn cưỡng
vô ích. Nếu ta
cố nói, đó gọi
là làm lỡ lời,
nhiều lúc giáo
đa thành oán.
Còn người biết
lắng nghe, tiếp
thu, đáng khuyên
mà ta lại không
khuyên, đó gọi
là làm lỡ người.
Không luận là lỡ
lời hay lỡ
người, đều chứng
tỏ ta không đủ
trí tuệ phân
biệt, phải tự
mình cẩn thận
kiểm thảo. Như
vậy mới tránh
khỏi lỡ lời lỡ
người.
Sao gọi là cứu
người trong cơn
nguy cấp?
Người sống ở đời
nhiều lúc gặp
phải cảnh hoạn
nạn khốn khổ.
Khi gặp người
trong cảnh đó,
ta phải xem nỗi
khổ của họ là
nỗi khổ của
mình, tìm cách
cứu giúp. Ta xem
họ gặp phải cảnh
oan khuất thế
nào, hoặc dùng
lời nói để bênh
vực, biện minh
lẽ công bằng cho
họ, hoặc dùng
mọi cách để cứu
giúp họ ra khỏi
cảnh khổ. Thôi
tử ở triều Minh
từng bảo: “Ân
huệ không phải ở
nơi lớn nhỏ, chỉ
cần gặp người
đang cơn nguy
cấp, ra tay cứu
giúp là được”.
Lời nói này thực
xuất phát từ tâm
của bậc nhân
giả!
Sao gọi là làm
việc lợi lớn?
Làm việc lợi lớn
là lợi ích cho
số đông, ví dụ
như đào kinh dẫn
nước tưới ruộng,
hay đắp đê để đề
phòng lũ lụt,
xây cầu khiến
đường xá lưu
thông, tiện việc
đi lại, cho cơm
cháu cứu giúp
người đói khổ,
không ai cứu
giúp.
Khi gặp cơ hội
làm những việc
như trên, phải
khuyên bảo mọi
người đồng lòng
góp sức góp tiền
để chung sức
hoàn thành. Cho
dù có người ngấm
ngầm phỉ báng,
xúc phạm, ta
cũng không nên
vì sợ những lời
đàm tiếu vô cớ
đó mà không dám
làm. Ta cũng
không nên vì sợ
hiềm nghi, cực
khổ, người khác
ghét ganh mà từ
chối không làm.
Sao gọi là bỏ
tiền bạc làm
việc phước?
Trong nhà Phật,
bố thí đứng đầu
mọi việc thiện.
Nói đến bố thí,
là nói đến xả
bỏ. Nếu có thể
xả bỏ được mọi
việc, thì sẽ khế
hợp được bản tâm
của Phật.
Người hiểu rõ
được đạo lý sẽ
biết xả bỏ được
mọi thứ, ngay cả
mắt tai mũi lưỡi
thân ý. Như Đức
Phật Thích Ca
trong nhân địa
hành Bồ Tát đạo,
đã từng xả thân
cho cọp đói ăn
là một điển
hình. Trong sáu
căn đã xả, ngoài
sáu trần sắc
thinh hương vị
xúc pháp cũng
xả. Làm được như
vậy, thì thân
tâm thanh tịnh,
không có phiền
não, không khác
chư Phật Bồ tát.
Nếu không xả
được như vậy,
thì ban đầu tập
xả bỏ tiền tài.
Người đời thường
xem trọng miếng
ăn cái mặc như
mạng sống. Cho
nên bố thí tiền
bạc cũng vô cùng
quan trọng. Nếu
có thể khẳng
khái xả bỏ tiền
bạc, đối với bản
thân có thể dẹp
trừ tâm ích kỷ,
đối với người có
thể cứu giúp qua
cơn cấp nạn.
Song không dễ
dàng gì coi nhẹ
tiền bạc. Lúc
ban đầu bố thí
khó tránh khỏi
có chỗ miễn
cưỡng. Song chỉ
cần thường làm
việc bố thí,
trong lòng sẽ tự
nhiên cảm thấy
an vui, có ý
nghĩa, không có
việc gì là không
thí xả được. Làm
được việc bố thí
sẽ dễ giúp cho
tâm tham lam, tự
tư của ta tiêu
trừ, cũng như
hóa giải được sự
chấp trước và
keo bẩn tiền
bạc.
Sao gọi là hộ
trì Chánh Pháp?
Pháp là con mắt
trí tuệ hướng
dẫn nhân loại
trên nẻo đường
nhân sinh từ xưa
đến nay, cũng là
tiêu chuẩn chân
lý. Nếu không có
Chánh Pháp, làm
sao giúp cho con
người được trở
nên tốt đẹp? Làm
sao có thể giúp
cho chúng sinh
thoát ra rừng
rậm u mê, tháo
gỡ ràng rịt trói
buộc? Làm sao có
thể đưa hữu tình
giải thoát thế
giới uế trược,
ra khỏi biển khổ
luân hồi sinh
tử? Tất cả đều
nhờ vào Chánh
Pháp, mới có
đường sáng để
đi.
Cho nên chúng ta
đối với chùa
chiền, tượng
Phật Bồ tát,
kinh điển, di
huấn đều phải
kính trọng. Nếu
có hư hỏng phải
tu bổ, chỉnh lý.
Chánh Pháp của
Phật, phải hoằng
truyền sâu rộng,
khiến mọi người
coi trọng, mới
có thể báo đền
ơn Đức Phật.
Sao gọi là kính
trọng bậc tôn
truởng?
Cha mẹ, anh chị
trong nhà, vua
quan trong nước,
cho đến người
tuổi tác, đạo
đức, chức vị,
kiến thức hơn ta
đều phải tôn
kính.
Trong nhà phụng
dưỡng cha mẹ,
phải có tâm biết
ơn, kính yêu,
hiếu thuận sâu
xa, mặt luôn tỏ
ra hòa nhã, ôn
thuận, lời nói
nhẹ nhàng, lễ
độ. Ta phải
thường thường
tập theo hạnh
này, lâu ngày
trở nên thói
quen, thành ra
tánh tình tốt
đẹp. Đây chính
là hòa khí,
phương pháp căn
bản để cảm động
lòng trời.
Đối với xã hội
quốc gia phải
tôn kính những
người lãnh đạo
đất nước, phàm
làm việc gì phải
theo luật pháp,
đừng cho rằng
người ta không
biết mà mặc tình
vi phạm. Xét xử
một người phạm
tôi, không luận
là tội nặng nhẹ,
đều phải điều
tra rõ ràng cẩn
thận, công bình
chấp hành pháp
luật. Không nên
cho rằng cấp
trên không biết
mà làm mưa làm
gió, oan uổng
người ta.
Tôn kính các cấp
truởng quan là
qui phạm từ xưa.
Ai làm tròn được
chữ trung chữ
hiếu, con cháu
sẽ được phát
đạt, cho nên
phải cẩn thận
tuân hành.
Sao gọi là yêu
tiếc sinh mệnh?
Người ta sở dĩ
được gọi là
người, là nhờ có
lòng trắc ẩn.
Cho nên Mạnh Tử
nói: “Ai không
có lòng trắc ẩn
thì không thể
gọi là người!”
Cầu lòng nhân
chính là cầu tấm
lòng trắc ẩn
này, tích đức
cũng chính là
tích chứa tấm
lòng trắc ẩn.
Cho nên có lòng
trắc ẩn là có
nhân, có đức;
không lòng trắc
ẩn là không nhân
nghĩa, đạo đức.
Sách Châu Lễ
bảo: Mỗi năm vào
tháng Giêng, khi
các loài gia súc
đang có mang,
thì không được
giết con cái để
cúng tế. Đây là
vì sợ sát hại
đến con vật khi
còn trong bụng
mẹ.
Mạnh tử nói:
“Quân tử tránh
xa nhà bếp”. Ý
nói là để bảo
toàn lòng trắc
ẩn của mình. Cho
nên, có thuyết
không ăn ba thứ
thịt, đó là:
thấy con vật bị
giết, nghe tiếng
kêu lúc bị giết,
và nghi người
khác vì mình mà
giết. Người sau
muốn học theo
lòng nhân của
người trước, nếu
không thể tức
thời trường
trai, thì cũng
có thể học theo
cách trên, chỉ
ăn ba thứ thịt
thanh tịnh,
không để tổn đến
lòng từ bi.
Theo Phật pháp,
tất cả loài súc
sinh đều do đời
trước gây tạo
tội nghiệp nên
phải đầu thai
làm súc vật để
trả nghiệp,
nghiệp hết lại
sinh làm người.
Nếu lại biết tu
hành, vẫn có thể
thành Phật. Cho
nên, ta ăn thịt
loài súc vật
cũng chính là ăn
thịt chư Phật
đời vị lai. Lại
nữa, tất cả
chúng sinh trong
quá khứ từng là
cha mẹ, anh em,
chồng vợ, quyến
thuộc lẫn nhau,
nên ta ăn thịt
chúng sinh cũng
chính là ăn thịt
cha mẹ, anh em,
chồng vợ, quyến
thuộc của mình
trong đời quá
khứ.
Ta nay ăn thịt
chúng sinh tức
là đã kết nghiệp
oán thù, sau này
phải đọa làm
loài súc sinh,
bị ăn nuốt trở
lại. Nếu ta biết
quán xét những
đạo lý trên, thử
hỏi còn lòng dạ
nào sát sinh, ăn
thịt? Lại nữa,
thịt cá có ngon
cũng chỉ qua
miệng là hết,
khỏi cổ đã biến
thành đồ bất
tịnh, sao ta lại
tham chút vị
giác đó mà gây
tạo nghiệp tội
nặng nề? Ăn để
mà sống, không
phải sống để mà
ăn, cho nên rau
cải, thực vật
cũng đủ qua
ngày.
Ngưòi chưa thể
bỏ ngay được
việc ăn thịt,
cũng phải lần
lần giảm bớt,
đến khi ăn chay
hoàn toàn. Như
vậy lòng từ bi
sẽ gia tăng mỗi
ngày.
Ăn chay, chủ yếu
là vì tránh sát
sinh, nuôi dưỡng
lòng từ bi. Cho
nên ta phải tôn
trọng, bảo vệ
mạng sống của
mọi loài, cho dù
là trùng kiến
nhỏ nhoi. Ngay
cả mặc những đồ
tơ lụa, được dệt
bằng tơ tằm cũng
phải nên tránh.
Ngay cả chén cơm
ta ăn hàng ngày,
cũng phải trải
qua quá trình
cày cuốc vun
trồng, nấu
nướng, trong đó
có biết bao côn
trùng đã chết để
nuôi mạng sống
cho ta. Nghĩ đến
điều này, ta
phải quý tiếc
cơm gạo, không
được phung phí,
coi thường. Ai
phung phí coi
thường cơm gạo
thức ăn, tức
đồng với tạo tội
sát sinh không
khác. Còn như
trong cuộc sống
hàng ngày vô ý
lỡ sát sinh, hay
giẫm đạp lên
loài trùng kiến
thì không biết
nhiều đến số bao
nhiêu. Cho nên
phải cẩn thận
tránh được nhiều
chừng nào tốt
chừng nấy.
Tô Đông Pha từng
có câu thơ:
Vì thương chuột
đói, chừa cơm
lại
Sợ thiêu thân
chết, chẳng thắp
đèn!
Thật là nhân hậu
biết bao.
Việc thiện thật
vô cùng vô tận,
không nói sao
cho hết được.
Chỉ có thể lược
nói mười việc
thiện như trên.
Chỉ cần chúng ta
nổ lực hành
thiện, tùy chỗ
tùy duyên, thì
công đức sẽ vô
lượng.
Cứu giúp người
nguy khó, cách
thức có rất
nhiều, nói đơn
giản mười điều:
một, giúp người
làm thiện; hai,
giữ lòng yêu
kính; ba, thành
tựu cho người;
bốn, khuyên
người làm lành;
năm, cứu người
nguy cấp; sáu,
làm việc lợi
lớn; bảy, xả tài
làm phước; tám,
hộ trì chánh
pháp; chín, kính
trọng tôn
truởng; mười,
yêu tiếc sinh
mạng.
CHƯƠNG BỐN
HỌC ĐỨC KHIÊM
TỐN
Ở chương ba đã
bàn đến phương
pháp tích thiện,
chương này sẽ
nói đến cách làm
người. Sống
trong xã hội, ta
không thể không
qua lại tiếp xử
với người khác.
Cho nên cách làm
người cũng phải
hết sức chú ý.
Trong cách làm
người, điều quan
trọng là khiêm
tốn. Người khiêm
tốn, nhất định
sẽ được nhiều
người ủng hộ và
tín nhiệm. Lại
nữa, người biết
khiêm tốn, có
thể học hỏi để
đổi mới mỗi
ngày. Không
những tiến bộ về
mặt học vấn,
kiến thức, mà
phương diện đạo
đức, ứng xử,
v.v... cũng
không ngừng tiến
bộ. Cho nên tất
cả lợi ích, đều
nhờ đức tính
khiêm tốn mà có.
Chương này bàn
về những lợi ích
của đức khiêm
tốn, cũng như
những ứng nghiệm
mà đức tính này
đem lại. Kính
mong mọi người
suy xét cẩn
thận, đừng xem
qua loa, nhất
định được lợi
ích lớn.
Kinh Thư nói: Tự
mãn sẽ tổn hại,
khiêm tốn được
lợi ích. Lời xưa
thật đúng thay,
lời xưa thật
đúng thay.
Quẻ Khiêm trong
Kinh Dịch nói:
Trong đạo lý của
trời, không luận
việc gì, nếu
tràn đầy sẽ tổn
giảm, còn khiêm
hư sẽ được lợi
ích. Trong đạo
lý của đất,
không luận vật
gì, nếu sung mãn
sẽ tổn hại,
không thể tốt
đẹp mãi; còn nếu
khiêm hạ sẽ được
thấm nhuần không
khô kiệt, giống
như chỗ đất thấp
sẽ có nước chảy
đến, làm đầy nơi
khiếm khuyết.
Trong đạo lý của
quỷ thần, phàm
kiêu ngạo tự mãn
sẽ khiến bị hại,
khiêm tốn sẽ
khiến được
phước. Còn trong
đạo lý của
người, ai cũng
chán ghét kẻ
kiêu ngạo tự
mãn, yêu quý
người khiêm tốn
hạ mình.
Như vậy, trời
đất quỷ thần và
con người đều
coi trọng khiêm
hạ. Sáu mươi bốn
quẻ trong Kinh
Dịch nói đến đạo
lý biến hóa
trong trời đất
âm dương, dạy
cho ta phương
pháp làm người.
Trong mỗi quẻ
đều có kiết có
hung. Quẻ hung
cảnh giác răn
người bỏ ác làm
lành; quẻ kiết
khích lệ người
mỗi ngày một
tiến bộ; chỉ có
quẻ khiêm, hoàn
toàn là việc
kiết tường. Kinh
Thư cũng nói: Tự
mãn sẽ gặp tổn
hại, khiêm tốn
sẽ được lợi ích.
Tôi nhiều lần đi
thi cùng với các
bạn học, mỗi lần
đều nhận thấy
những thư sinh
nghèo khi sắp
thành đạt, trên
nét mặt của họ
đều hiện ra vẻ
khiêm cung, an
ổn rõ ràng.
Năm Tân Hợi, tôi
đến kinh thành
đi thi hội. Quê
Gia Hội của tôi
số người cùng đi
thì có khoảng
mười người,
trong đó Đinh
Kính Vũ là người
trẻ tuổi nhất
lại vô cùng
khiêm cung. Tôi
bảo với Phí Cẩm
Pha cũng là
người cùng đi
thi: Đinh Kính
Vũ năm nay nhất
định thi đậu.
Phí Cẩm Pha hỏi:
Làm sao mà biết?
Tôi bảo: Chỉ có
người khiêm tốn
mới được huởng
phước báo. Ông
nhìn xem trong
số mười người
chúng ta, có ai
thành thật trung
hậu, khiêm
nhường như Kính
Vũ không? Có ai
cung kính, hòa
thuận, cẩn thận
như Kính Vũ
không? Có ai bị
nhục mạ, hủy
báng mà vẫn im
lặng như Kính Vũ
không? Một người
làm được như
vậy, thì trời
đất quỷ thần sẽ
bảo hộ cho họ,
sao lại không
thành đạt?
Sau đó quả nhiên
Kính Vũ thi đỗ.
Năm Đinh Sửu tôi
ở chung với
Phùng Khai Chi
tại kinh thành,
trông thấy ông
ta rất khiêm
tốn, nét mặt
luôn tỏ ra hòa
nhã, không có
chút kiêu ngạo,
hoàn toàn thay
đổi so với tính
khí ông ta lúc
nhỏ. Ông ta có
một người bạn
tánh tình chánh
trực tên là Lý
Tề Nghiêm thường
phê bình ông
ngay trước mặt.
Mỗi khi như vậy,
Phùng Khai Chi
đều hòa nhã tiếp
thu lời phê bình
của bạn, không
hề phản đối một
câu. Tôi bảo với
Phùng Khai Chi:
“Một người được
huởng phước,
phước đức đó
nhất định có
nguyên nhân của
nó; một người
gặp họa, tai họa
đó nhất định có
nguyên nhân của
nó. Chỉ cần tâm
của ta khiêm
tốn, trời sẽ gia
hộ. Ông năm nay
nhất định sẽ thi
đỗ”.
Sau đó quả nhiên
Phùng Khai Chi
có tên trên bảng
vàng.
Năm Nhâm Thìn
tôi vào kinh ra
mắt vua, trông
thấy một thư
sinh tên Hạ
Kiến, khiêm tốn
nhúng nhường,
không có một
chút kiêu ngạo.
Khi trở về tôi
bảo với bạn bè:
“Phàm trời muốn
cho người nào
được thành đạt,
thì trước hết
khiến người đó
phát trí tuệ.
Trí tuệ này
khiến họ tự
nhiên từ giảo
hoạt trở nên
thành thật, từ
phóng túng tự
biết ước thúc.
Hạ Kiến ôn hòa
đôn hậu đến mức
như vậy, chứng
tỏ đã phát trí
tuệ, trời nhất
định sẽ ban phúc
cho ông”.
Sau đó quả nhiên
Hạ Kiến thi đậu.
Giang Âm có một
thư sinh, tên là
Trương Úy
Nghiêm, học vấn
uyên thâm, văn
chương xuất sắc,
rất nổi tiếng
trong giới thư
sinh. Trong kỳ
thi Hương năm
Giáp Ngọ, ông ta
ở nhờ trong chùa
đợi kết quả thi.
Đến khi công bố
kết quả, không
ngờ lại không có
tên ông. Ông
không phục, mắng
quan giám khảo
là không có mắt,
không thấy được
chỗ hay trong
văn của mình.
Lúc đó có một vị
đạo sĩ đứng bên
cạnh mỉm cười.
Trương Úy Nghiêm
bèn đem cơn giận
của mình trút
sang đạo sĩ. Đạo
sĩ lại nói: “Văn
của ông nhất
định không hay!”
Trương Úy Nghiêm
càng nóng giận
bảo: “Ông không
có xem văn của
tôi, sao lại
biết nó không
hay?” Đạo sĩ trả
lời: “Tôi thường
nghe người ta
bảo: Làm văn
quan trọng nhất
là ở chỗ tâm
bình, khí hòa.
Nay thấy ông
nóng giận mắng
quan giám khảo,
chứng tỏ trong
tâm vô cùng bất
bình, tánh khí
nóng nảy, thử
hỏi như vậy văn
làm sao mà hay
được?”
Trương Úy Nghiêm
nghe xong không
thể không phục,
trở lại thỉnh
giáo vị đạo sĩ.
Đạo sĩ nói:
“Muốn thi đậu
công danh, bản
thân ông nhất
định phải cải
đổi”. Trương Úy
Nghiêm hỏi: “Số
mệnh đã như vậy,
làm sao mà thay
đổi?”.
Đạo sĩ bảo: “Tạo
ra số mệnh tuy
rằng ở nơi trời,
song quyền thay
đổi lại ở nơi
ta. Chỉ cần ông
chịu khó làm
việc thiện, tích
âm đức, thì có
việc phước gì mà
không cầu
được?”. Trương
Úy Nghiêm bảo:
“Tôi là một thư
sinh nghèo, biết
có thể làm được
việc thiện gì
đây?” Đạo sĩ
nói: “Làm việc
thiện, tích âm
đức đều xuất
phát từ tâm. Chỉ
cần tâm ta chí
thành làm việc
thiện, là công
đức vô lượng vô
biên. Như khiêm
tốn cũng là một
việc thiện, mà
không phải bỏ
tiền ra làm. Ông
sao lại không
biết phản tỉnh,
thấy khả năng
của mình còn
kém, trở lại
mắng giám khảo
bất công?”
Trương Úy Nghiêm
nghe lời đạo sĩ,
từ đó về sau dẹp
bỏ tâm kiêu mạn,
chú ý ước thúc
lấy mình, mỗi
ngày đều gắng
công làm lành,
tích âm đức. Đến
năm Dinh Dậu,
một hôm ông nằm
mơ trông thấy
đến một nơi nhà
cửa to lớn, nhìn
thấy một danh
sách thi đậu,
trong đó còn
nhiều chỗ để
khuyết. Ông
không hiểu mới
hỏi người bên
cạnh: “Đây là
cái gì?”. Người
đó trả lời: “Đây
là danh sách thi
đậu năm nay”.
Trương Úy Nghiêm
lại hỏi: “Sao
trong danh sách
lại có nhiều chỗ
để khuyết?”.
Đáp: “Cõi âm đối
với những người
đi thi ba năm
xét duyệt một
lần, phải là
người không có
lỗi lầm, tích
chứa âm đức mới
có tên trong sổ
này. Như phần
trước trong danh
sách để trống,
đó là tên của
những người lẽ
ra thi đậu, song
do vì phạm phải
tội lỗi nên bị
xóa tên”. Kế đó
lại chỉ một hàng
trong danh sách
nói: “Ông ba năm
nay rất chú ý
việc ước thúc
bản thân, không
có phạm lỗi, có
lẽ sẽ bổ khuyết
vào chỗ này. Hy
vọng ông tự biết
trân trọng, đừng
phạm sai lầm”.
Sau đó trong kỳ
thi Hội, quả
nhiên họ Trương
được trúng tuyển
hạng thứ một
trăm lẽ năm.
Qua những chuyện
đã xảy ra ở
trên, chúng ta
biết rằng xung
quanh đều có quỷ
thần giám xét
hành vi của
mình. Do đó,
việc lành lợi
ích cho người
phải nổ lực làm;
việc ác tổn hại
đến người phải
cố gắng tránh.
Cho nên tất cả
thiện ác, lành
dữ đều do ta
quyết định. Lòng
mình giữ lương
thiện, ước thúc
mọi hành vi bất
thiện, không đắc
tội với quỷ thần
trời đất, và
khiêm tốn không
kiêu ngạo tự
mãn, chính là
căn bản của
phước đức. Còn
những người kiêu
ngạo, nhất định
không phải là
bậc khí lượng to
lớn dài lâu, cho
dù họ có thành
đạt cũng chỉ một
thời, không cách
gì huởng phước
lâu dài. Người
không khiêm tốn,
không chịu học
hỏi và cũng
không ai thích
dạy bảo cho họ.
Khiêm tốn vô
cùng quan trọng,
có thể giúp ta
học hỏi được bao
điều hay lẽ
phải. Người khác
có gì hay, có
việc gì thiện
liền theo học,
được việc lành
vô cùng vô tận.
Nhất là trong
việc tu dưỡng
đạo đức, khiêm
tốn đóng một vai
trò quan trọng
hàng đầu.
Long thần hộ
pháp ở bên ta,
lành dữ ta làm
khó dấu qua;
khiêm tốn học
điều lành lẽ
phải, tự nhiên
phước đức sẽ
hằng sa, tự
nhiên phước đức
sẽ hằng sa!
Cổ nhân có câu:
Cầu công danh
được công danh,
cầu giàu sang
được giàu sang.
Người có chí lớn
như cây có rễ,
sẽ sinh ra cành
lá, hoa trái.
Muốn thành tựu
được chí lớn,
người ta phải
tâm tâm niệm
niệm khiêm tốn,
có việc gì lợi
ích cho người,
dù nhỏ mảy may,
cũng ra sức làm.
Như vậy sẽ tự
nhiên cảm động
đến trời đất.
Làm phước hoàn
toàn ở nơi ta.
Chỉ cần ta quyết
tâm làm là được.
Những người mưu
cầu công danh
hiện nay, thật
ra không có
quyết tâm, hằng
tâm, chân tâm,
mà chỉ tùy hứng,
tùy tiện trong
nhất thời. Mạnh
tử nói về Tề
Tuyên Vương:
“Đại vương yêu
thích âm nhạc,
nếu yêu thích
đến đúng mức thì
có thể khiến vận
mệnh nước Tề
hưng thịnh.
Nhưng đại vương
yêu thích âm
nhạc chỉ vì tìm
cầu niềm vui cho
cá nhân mà thôi.
Nếu đại vương
biết đem tâm tìm
cầu niềm vui cho
riêng mình, mở
rộng ra, khiến
có thể cùng nhân
dân chia sẻ niềm
vui, khiến mọi
người được vui,
thì lo gì vận
mệnh nước Tề
không hưng
thịnh?”
Tôi nghĩ việc
cầu công danh
đạo lý cũng như
vậy. Phải thực
hiện việc cầu
công danh này
dựa trên tâm
tích đức hành
thiện; đồng thời
phải gắng hết
sức mình làm,
thì vận mệnh và
phước báo đều do
ta quyết định.
Thưa các bạn,
xem hoặc nghe
xong sách Làm
Chủ Vận Mệnh
này, trong tâm
bạn chắc có
nhiều xúc cảm,
được lợi ích
không nhỏ. Đây
là một quyển
sách cảm động và
thanh tịnh hóa
lòng người. Về
mặt văn chương,
quyển sách này
tuy bề ngoài dễ
hiểu, song thực
ra, trong đó
chứa đựng biết
bao triết lý
nhân sinh sâu
xa, cần phải
dụng tâm thể
nhận, mới thấy
được giá trị của
nó.
Cho nên kính
mong các vị,
nghe xong hãy
nghe đi nghe lại
nhiều lần, đọc
xong hãy đọc đi
đọc lại nhiều
lượt, để củng
cố, tăng truởng
tín tâm, học
theo gương của
Liễu Phàm tiên
sinh, bỏ ác làm
lành, tu nhân
tích đức, để cải
đổi mệnh vận xấu
ác, khổ đau,
thành mệnh vận
tốt đẹp, hạnh
phúc cho mình.
Tương lai thật
ra ở trong tay
chúng ta. Không
luận về mặt học
nghiệp, sự
nghiệp, gia đình
... cho đến trở
thành Thánh
Hiền, đều dựa
trên căn bản này
mà thành tựu mỹ
mãn.
Vì lợi ích cho
số đông, sách
Làm Chủ Vận Mệnh
này không giữ
bản quyền, cho
nên rất mong mọi
người cùng phát
tâm in ấn, sang
băng ghi âm để
kết duyên lành
cùng đại chúng
trong xã hội.
Mong rằng nhờ đó
sẽ khiến lòng
người trở nên
lương thiện, mọi
người biết sống
một nếp sống đạo
đức tốt đẹp. Nếu
biết học theo
đây không làm
các việc ác,
gắng sức làm
điều lành, thanh
tịnh tâm ý mình,
thì cá nhân sẽ
thăng hoa, gia
đình sẽ mỹ mãn,
xã hội sẽ an
định, đất nước
sẽ an vui và thế
giới sẽ hòa
bình.
Hết
|
|
|